Bảo vệ môi trường trong các nhà máy nhiệt điện


3/2/2017
CEWAREC.org - Nước ta hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động, hằng năm tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn than và thải ra gần 16 triệu tấn tro, sỉ, thạch cao. Vừa qua, trên nghị trường Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá XIV, ONMT do các nhà máy nhiệt điện gây ra là nội dung được đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ TN&MT đã cho thấy nhiều thách thức đang đặt ra đối với loại hình nhiệt điện tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm.



    Bức tranh các nhà máy nhiệt điện
     Hiện nay, cả nước đã có 20 nhà máy nhiệt điện than hoạt động, tổng công suất đạt 13.110 MW, mỗi năm thải ra hơn 15,7 triệu tấn tro, xỉ. Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết, tỷ lệ phát nhiệt điện than đang chiếm tới 34,37%, với tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than đạt 13.483 MW. Các nhà máy nhiệt điện chủ yếu sử dụng nguồn than sản xuất trong nước.
    Cơ cấu nguồn điện của Việt Nam hiện có thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, điện gió, điện mặt trời… Hiện nay, nguồn thủy điện đã khai thác gần hết, chỉ còn một số dự án mở rộng và các công trình thủy điện vừa và nhỏ có công suất dưới 30 MW. Từ nay đến năm 2030, Việt Nam chưa có điện hạt nhân, nên phải xây dựng một số nhà máy nhiệt điện than để nâng công suất nguồn, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong khi đó, nguồn thủy điện trong nước đã khai thác hết. Như vậy, để bảo đảm điện cho khu vực này chỉ còn 2 con đường: Thứ nhất, chấp nhận phát triển nhiệt điện than và thứ hai nhập khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) để chạy tuabin khí. Tuy nhiên, việc nhập khí LNG để phát triển điện thường dành cho các nước phát triển vì giá thành sản xuất điện cao... Nếu cân đối giá điện, công nghệ đầu tư xây dựng, sự ổn định trong vận hành và cả chế độ chạy nền, chạy lưng, chạy đáy thì nhiệt điện than đều đáp ứng được. Trên thực tế, để đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng tăng cao ở miền Nam phải dựa vào nhiệt điện than và LNG. Cả hai nguồn điện này đã và đang được vận hành song song, nhằm đa dạng hóa các nguồn năng lượng, hạn chế rủi ro cho hệ thống điện.
    Theo Quy hoạch phát triển điện lưới quốc gia năm 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII), năm 2016, dự báo tốc độ tăng trưởng sản lượng điện vẫn ở mức trên 10%/năm, gần gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng GDP cả nước.  Đến giai đoạn 2025 - 2030, các tỉnh phía Nam cần bổ sung khoảng 30.000 MW nguồn điện tại chỗ mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế. Cũng theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020 sẽ có 32 nhà máy, tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000 MW chiếm 49,3% lượng điện sản xuất; năm 2025 đạt khoảng 47.600 MW, chiếm 55% điện sản xuất; năm 2030 đạt 55.300 MW chiếm 53,2% điện sản xuất. Khi đó, sẽ thải mỗi năm khoảng 29 triệu tấn tro, xỉ. Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (Bình Thuận) và nhiệt điện Duyên Hải 1 (Trà Vinh) mỗi ngày hút hơn 4,5 triệu m3 nước biển để làm mát và xả trở lại biển. Trong dự án nhiệt điện Vĩnh Tân, có 5 nhà máy nhiệt điện than, khi đi vào hoạt động đầy đủ vào năm 2020 sẽ hút mỗi ngày từ biển hơn 20 triệu m3 nước biển để làm mát và xả trở lại biển.
    Ẩn hoạ môi trường
    Theo các tài liệu khoa học, trong quá trình đốt cháy than để sản xuất điện, khoảng 20% chất vô cơ không cháy và cả lượng than chưa cháy hết bị dính vón thành các hạt lớn và rơi xuống đáy lò gọi là xỉ than hay tro đáy và 80% chất vô cơ không cháy còn lại sẽ bay theo khói lò thoát ra ngoài thành tro bay với khối lượng hàng triệu tấn mỗi năm, gây ONMT nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Tro bay thường được thu hồi bằng hệ thống lọc bụi tĩnh điện.
    Hiện cả nước có 20 nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động sử dụng nguồn than trong nước khoảng 20 triệu tấn mỗi năm. Ước tính, các nhà máy này thải ra trên ba triệu tấn xỉ than hằng năm, bên cạnh một lượng tro bay lớn. Theo Quy hoạch điện VII, các nhà máy nhiệt điện chuẩn bị đưa vào vận hành sắp tới sẽ sẽ sử dụng tối đa nguồn than khai thác trong nước, bên cạnh nguồn than nhập khẩu. Theo quy hoạch này, để sản xuất được 156 tỉ kWh điện mỗi năm vào năm 2020 (tổng công suất nhiệt điện than khoảng 36.000 MW) thì phải tiêu thụ hơn 67 triệu tấn than và đến năm 2030 khi tổng công suất nhiệt điện than tăng lên 75.000 MW thì cần đến 171 triệu tấn than. Điều đó đồng nghĩa với lượng xỉ than tro đáy lên đến 14 triệu tấn mỗi năm vào năm 2020, và gần 35 triệu tấn tro đáy hằng năm vào năm 2030, cùng hàng chục triệu tấn tro bay.
    Vấn đề đặt ra là, các nhà máy nhiêt điện đang hoạt động hiện nay chưa tìm được giải pháp đầu ra cho tro xỉ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng tại Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 23/9/2014 về một số giải pháp thực hiện xử lý tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, để làm nguyên liệu sản xuất VLXD. Vướng mắc lớn nhất là nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng, gạch không nung có khả năng sử dụng sử dụng tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất nhưng lại không đủ điều kiện tiếp nhận tro xỉ theo quy định của Nghị định số 38/2015/ NĐ-CP và thiếu các Quy chuẩn kỹ thuật đối với tro xỉ làm vật liệu xây dựng, vật liệu san nền.
    Bảo vệ môi trường ở các nhà máy nhiệt điện
    Bên cạnh những đóng góp cho phát triển kinh tế, quá trình vận hành nhà máy nhiệt điện than đang tác động nhất định tới môi trường sinh thái. Chính vì vậy, khi phát triển nhiệt điện than, các chủ đầu tư phải quan tâm và thực hiện nghiêm các giải pháp BVMT, đó là:
    Đối với các dự án đang xây dựng, chưa đi vào vận hành, chủ đầu tư phải TN&MT phê duyệt, các hạng mục công trình có sự thay đổi so với đánh giá ĐTM ban đầu thì chỉ được triển khai thực hiện khi đã có sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt ĐTM. Yêu cầu nhà thầu và chủ đầu tư phải hoàn thành đầy đủ các hạng mục, công trình BVMT theo cam kết trong ĐTM. Trong giai đoạn vận hành thử nghiệm các công trình BVMT cần thông báo rộng rãi đến chính quyền địa phương, cơ quan phê duyệt ĐTM về hoạt động vận hành thử nghiệm để chính quyền và người dân địa phương cùng giám sát. Sau quá trình vận hành thử nghiệm (thời gian 6 tháng) cần hoàn thiện hồ sơ xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường gửi cơ quan phê duyệt ĐTM xem xét, xác nhận.
    Đối với các nhà máy đang hoạt động, Bộ Công Thương đã yêu cầu các Nhà máy tuân thủ đầy đủ cam kết về quan trắc và giám sát môi trường đã được phê duyệt trong ĐTM, cụ thể: Đối với hệ thống xử lý khói lò, Tập đoàn điện lực Việt Nam cần xây dựng lộ trình cải tạo hệ thống đốt khởi động lò, để có thể đưa hệ thống lọc bụi tĩnh điện vào ngay khi bắt đầu khởi động. Khi chưa cải tạo, khắc phục được thì các nhà máy phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để thông báo rộng rãi cho người dân biết về quá trình nhà máy khởi động lò để người dân tham gia giám sát.
    Đối với tro xỉ nhà máy nhiệt điện, các Nhà máy nhiệt điện phải chịu trách nhiệm đối với nguồn phát sinh chất thải của mình, chủ động tìm kiếm các giải pháp để xử lý và tiêu thụ. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương, Bộ TN&MT và các cơ quan có liên quan, trong phạm vi trách nhiệm của mình cần rà soát việc quy hoạch các trung tâm nhiệt điện trong cả nước, ban hành các tiêu chuẩn về đánh giá ĐTM, tiêu chuẩn hoạt động của các nhà máy nhiệt điện, nhất là đối với hệ thống xả khí, nước thải và xử lý tro, xỉ; tổ chức tốt việc đánhgiá ĐTM, nhất là đánh giá ĐCM, đánh giá tác động tích lũy của  các nhà máy trong các trung tâm nhiệt điện; tăng cường hoạt động giám sát, quan trắc và thông tin QLNN về môi trường và để nhân dân được biết; tạo điều kiện để ặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân giám sát. Đối với nước thải của nhà máy nhiệt điện, yêu cầu các Nhà máy phải lắp đặt hệ thống giám sát các thông số nước thải online, kết nối với Sở TN&MT để tạo thuận lợi cho các cơ quan giám sát các thông số môi trường.

Nguồn: http://www.tapchitainguyenvamoitruong.vn/383/TNMT/18536/Bao-ve-moi-truong-trong-cac-nha-may-nhiet-dien.html
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: