Giảm trầm tích sông Mekong: Mối họa không còn là cảnh báo...


10:00 05/07/2015 
CEWAREC.org - TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển tài nguyên nước và Thích nghi biến đổi khí hậu bày tỏ sự lo ngại trước công bố mới đây của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) về lượng trầm tích trên sông Mekong giảm trên 50% so với hơn 20 năm trước.


Lượng trầm tích (phù sa) trên sông Mekong giảm quá nhanh cho thấy các con đập ngăn dòng đang thể hiện mặt trái đúng như những cảnh báo.

TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển tài nguyên nước và Thích nghi biến đổi khí hậu bày tỏ sự lo ngại trước công bố mới đây của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) về lượng trầm tích trên sông Mekong giảm trên 50% so với hơn 20 năm trước.

Hệ quả từ những con đập thủy điện

Theo TS Đào Trọng Tứ, trầm tích sông Me kong chịu tác động lớn của nhiều yếu tố, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy điện trên lưu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia). Tác động đến nguồn nước và trầm tích đến ĐBSCL cũng ngày càng lớn.

Đến nay trên dòng sông Mekong Trung Quốc đã xây 5 đập lớn và dự kiến 2020 là 12. Lào đang xây dựng đập Xayabury và dự kiến 9 con đập khác sẽ xây trong tương lai, Campuchia 2 và hàng trăm hồ chứa thủy điện và thủy lợi xây trên dòng nhánh ở các quốc gia trong lưu vực.

Trầm tích lưu vực Me Kong khoảng 150 đến 170 triệu tấn/năm. Thế nhưng chỉ trong 10 năm đầu vận hành, đập Manwan đã mất đi 20% dung tích trữ do trầm tích lắng đọng, tức là dòng chính sông Mekong mất đi 20 triệu m3 trầm tích.

"Trong 20 năm mà lượng trầm tích giảm hơn một nửa là rất nhanh. Các con đập lớn trên thượng nguồn đã khiến lượng trầm tích bị giữ lại trên thượng nguồn rất lớn. Các đập ở thượng nguồn không thiết kế hệ thống xả đáy mà kể cả có làm cống xả đáy cũng không có tác dụng nhiều đã dẫn đến hệ quả ngày hôm nay", TS Tứ nói.

Theo ông Tứ, điều này đã được giới khoa học cảnh báo từ khi các con đập chuẩn bị được xây dựng. Tuy nhiên vì lợi ích mỗi quốc gia các cảnh báo đã bị phớt lờ.

"Sự nguy hiểm từ việc giảm lượng phù sa trên dòng sông này mà các nhà khoa học đưa ra không phải là sự dọa nạt ai đó mà thực tế từng cá nhân mỗi chúng ta sẽ phải hứng chịu điều này khi khí hậu biến đổi", TS Tứ cảnh báo.

Giam tram tich song Mekong: Moi hoa khong con la canh bao...
Người dân ĐBSCL đang hàng ngày đối mặt với nguy hiểm từ việc xói lở bờ sông

Cần trưng bằng chứng lên bàn đối thoại

Chỉ thêm sự ảnh hưởng của Việt Nam, TS Đào Trọng Tứ cho biết ĐBSCL trung bình nhận khoảng 79 triệu tấn/năm. Trong số này khoảng  9 đến 13 triệu tấn lắng đọng ở các đồng bằng ngập lũ và phần còn lại góp phần mở rộng châu thổ và làm phì nhiêu các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển.

Lượng trầm tích lắng đọng ở các vùng nước nông ven biển giúp bảo vệ bờ biển khỏi bị xói lở do sóng. Nền nông nghiệp và đánh bắt thủy hải sản của Việt Nam phụ thuộc vào vận chuyển chất dinh dưỡng trong trầm tích.

"Việc giảm tải lượng trầm tích có thể làm tăng mạnh chi phí cho cả nông nghiệp và thủy sản biển. Giảm nguồn cấp trầm tích sẽ làm tăng xói lở bờ và vùng ven biển, quá trình này có thể còn nghiêm trọng hơn do nước biển dâng dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu", TS Tứ lo ngại.

Dẫn thêm thông tin nghiên cứu, TS Tứ cho biết, dự báo đến năm 2050 khoảng 1 triệu người sẽ bị tác động trực tiếp bởi xói lở ven bờ và mất đất ở ĐBSCL.

Cụ thể thời gian qua đã có 265 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển, tổng chiều dài hơn 450 km. 

"Hầu hết bờ biển của ĐBSCL đều bị xói lở với nhiều mức độ khác nhau. Mỗi năm sạt lở đã “ngốn” đến 500 ha đất của vùng với tốc độ sạt lở dọc theo bờ biển lên đến 3040 mét/năm . Đây không còn là cảnh báo mà người dân đang hứng chịu trực tiếp những hệ lụy", TS Tứ nêu.

Từ thực tế này ông Tứ cho rằng hơn lúc nào hết các nhà quản lý cần đặt lên bàn đối thoại để đưa ra tiếng nói khách quan.

"Những bằng chứng khoa học đưa ra mục đích cuối cùng là đặt lên bàn để các bên cùng thương lượng. Có thể thấy phản ứng thời gian qua về vấn đề này chưa ‘đủ liều’. Đôi khi sự quan tâm còn chưa đúng mức", vì vậy TS Tứ cho rằng cần phải lên tiếng mạnh mẽ hơn.

TS Tứ cho rằng, về phương diện quốc gia cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động ưu tiên quản lý trầm tích trong phạm vi ĐBSCL (xem xét các giải pháp phát triển hiện tại tác động đến trầm tích và tác động trầm tích - Quy hoạch/kế hoạch khai thác trầm tích bền vững.

Ở cả cấp lưu vực (MRC) và quốc gia, thiếu khung pháp lý và chiến lược quản lý trầm tích bền vững. Quản lý trầm tích bền vững lưu vực sông Mekong nói chung và ĐBSCL phải xét đến toàn lưu vực sông, hệ thống hồ chứa và tác động lũy tích của các bậc thang.

"Các hoạt động này cần có sự hợp tác và cam kết mạnh mẽ từ các quốc gia trong Ủy hội sông Mekong. Cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu và đánh giá khoa học và toàn diện trầm tích sông Mekong và vai trò của trầm tích đối với ĐBSCL", ông Tứ kiến nghị.

Bích Ngọc/Báo Đất Việt
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: