PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TRÊN SÔNG HỒNG – HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN





Sông Hồng là tên gọi chung hệ thống sông Hồng - Thái Bình. Sông Hồng,  sông lớn thứ 2 của Việt Nam sau sông Mê Công. Sông Hồng  bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy qua lãnh thổ của 3 nước Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Tổng diện tích toàn lưu vực là 169.020 km2,  trong đó phần diện tích nằm ở Việt Nam là 86.680 km2, chiếm 51,3%, phần diện tích nằm ở nước ngoài là 82.300 km2,  chiếm 48,7%: (Trung Quốc 81.200 km2 chiếm 48%; Lào: 1.100 km2 chiếm 0,7%). Hệ thống sông Hồng - Thái Bình có tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm là 133 tỷ m3 (trong đó thuộc lãnh  thổ Việt Nam là 81,86 tỷ m3 ).    Phần lưu vực sông Hồng nằm trong lãnh thổ Việt Nam chảy qua  26 tỉnh, thành phố, trong đó có thủ đô Hà Nội. Dân số lưu vực tính đến năm 2013 là hơn  26 triệu người.  

 

Sông Hồng có 5 phụ lưu lớn đều bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc: sông Lý Tiên, sông Đăng Điều, sông Nguyên, sông Bàn Long và sông Phổ Mai. Sau khi chảy vào địa phận Việt Nam hợp thành 3 nhánh lớn là: sông Đà, sông Thao và sông Lô - Gâm, ba nhánh này gặp nhau tại Việt Trì và được gọi là sông Hồng. Khi chảy vào vùng đồng bằng, nó có nhiều phân lưu ra cả hai phía bờ tả và bờ hữu. Bờ tả có 3 phân lưu là sông Đuống, sông Luộc và sông Trà Lý, bờ hữu có 2 phân lưu là sông Đào Nam Định và sông Ninh Cơ.  Sông Thái Bình nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam và cũng được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam, ba nhánh này gặp nhau tại Phả Lại tạo thành dòng chính sông Thái Bình.

Tiềm năng và hiện trạng phát triển thủy điện trên lưu vực sông Hồng

Sông Hồng được đánh giá là một trong những lưu vực sông có tiềm năng thủy điện khá lớn kể cả trên lãnh thổ Trung Quốc và đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam. 

Sông Hồng trên lãnh thổ Trung Quốc.

Trên thượng nguồn sông Hồng, phía Trung Quốc đang khai thác mạnh mẽ nguồn nước để phát triển thuỷ điện. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên thượng nguồn các sông Đà, sông Lô và sông Thao, phía Trung Quốc đã hoàn thành hoặc có kế hoạch xây dựng khoảng 52 nhà máy thuỷ điện. Trong đó, 23 đập ngăn nước trên sông Thao, 24 công trình trên sông Đà, 5 công trình trên sông Lô- Gâm, 2 công trình trên sông Bằng  Giang-Kỳ Cùng.  8 công trình trên sông Đà đã hoàn thành có dung tích các hồ chứa khoảng 2 tỷ m3, công suất khoảng 2.000 MW.


Tiềm năng và Hiện trạng phát triển thủy điện trên sông Hồng ở Việt Nam.

Theo những kết quả nghiên cứu quy hoạch thủy lợi của lưu vực qua các giai đoạn kết hợp với quy hoạch của ngành điện cho thấy lưu vực sông Hồng có tiềm năng  thủy điện lớn nhất trong các hệ thống sông nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Tiềm năng thủy điện của sông Hồng tập trung chủ yếu 2 chi lưu lớn là sông Đà và sông Lô – Gâm. (Bảng 3).


 Sông Đà

Sông Đà bắt nguồn từ dãy Nguỵ Sơn thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam theo hướng Tây Bắc – Đông Nam ở độ cao trên 1500m. Diện tích lưu vực 52.900 km2 trong đó 26.800 km2 thuộc lãnh thổ Việt Nam bao gồm phần trung và hạ lưu trải dài khắp 7 tỉnh là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Yên Bái, Phú Thọ và Hà Tây cũ. Chiều dài dòng chính là 980 km trong đó 540 km thuộc lãnh thổ Việt nam. Sông Đà được coi là một trong ba phụ lưu chính của hệ thống sông Hồng chiếm 55% lượng nước của sông Hồng. Tổng lượng nước phát sinh tại chỗ và từ ngoài lưu vực chảy vào là 52 triệu m3 nước . 

Công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam (trước khi có Sơn La) đã  được xây dựng trên sông  Đà đó là công trình Hòa Bình. Thủy điện Hoà Bình công suất lắp máy là 1920 MW,  gồm 8 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 245 MW và sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ kwh. Hòa Bình được xây dựng trong 15 năm (1979-1994). Sau thủy điện, Hòa Bình, công trình thủy điện lớn nhất  Đông Nam Á cũng được xây dựng trên sông  Đà, thủy điện Sơn La với công suất lắp máy 2400 MW, nhà máy được khởi công xây dựng ngày 2 tháng 12 năm 2005, sau 7 năm xây dựng, thủy điện Sơn La được khánh thành vào ngày 23 tháng 12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á. và đang xây dựng công trình thủy điện Lai Châu 1200 MW , Bản Chát 220 MW, Huổi Quảng 520 MW, Nậm Chiến 210 MW, và xây dựng tiếp theo và các công trình thủy điện nhỏ khác trên các sông nhánh.

Sông Lô - Gâm

Trên lưu vực sông Lô- Gâm có công trình thủy điện Tuyên Quang có công suất 342MW, sản lượng điện hàng năm lên đến 1.295 triệu KWh, tích nước tối đa 1,5 tỉ mét khối và đi vào hoạt động từ năm 2009. Hồ Tuyên Quang được xây dựng nhằm giảm lũ lụt cho thị xã Tuyên Quang nói riêng và đồng bằng sông Hồng nói chung, kết hợp với phát điện và cải tạo cảnh quan môi trường.

Trên lưu vực sông Gâm có một số công trình thủy điện nhỏ và vừa đã được xây dựng như thủy điện Nho Quế 1 công suất  32 MW, Nho Quế 3 công suất 135 MW, thủy điện cột nước thấp Chiêm Hóa công suất  48 MW. Chiêm Hóa là thủy điện cột nước thấp có quy mô trung bình lần đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam.

Sông Chảy

Trên sông Chảy hiện tại có nhà máy thủy điện Thác Bà 120 MW và nhà máy thủy điện Bắc Hà 90 MW (370 triệu KW giờ điện/năm) (2008-2010),. Ngoài ra còn có khả năng xây dựng một số trạm thủy điện nhỏ trên lưu vực sông.

Thủy điện có vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho hệ thống điện quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các công trình thủy điện của Việt Nam nói chung và trên lưu vực sông Hồng nói riêng  đã đóng góp đáng kể về công suất và điện lượng cho hệ thống điện quốc gia; đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách thông qua thuế VAT, thuế tài nguyên nước, phí dịch vụ môi trường rừng. Các công trình thủy điện cũng đã góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tạo nhiều việc làm cho lực lượng lao động địa phương. Các hồ chứa thủy điện đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động điều tiết nước, chống lũ, chống hạn, phục vụ sản xuất, sinh hoạt ở hạ du.


(TS. Đào Trọng Tứ; KSC. Phan Thanh Toản - Trung tâm Phát triển bền vững Tài nguyên và Thích nghi Biến đổi khí hậu)
Nguồn Ban Quản lý Quy hoạch Lưu vực sông Hồng - Thái Bình
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: