QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM


09:00 13/05/2015
CEWAREC.org - TS Đào Trọng Tứ - Giám đốc Trung tâm Phát triển Bền vững Tài nguyên nước và Thích nghi Biến đổi Khí hậu đã có bài trình bày trong buổi hội thảo "Phát triển Bền vững lưu vực sông - thách thức và giải pháp"


TS. Đào Trọng Tứ

1.NƯỚC – NGUỒN TÀI NGUYÊN THIẾT YẾU CHO CUỘC SỐNG CỦA CON NGƯỜI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TẤT CẢ CÁC QUỐC GIA.
Tài nguyên nước là thiết yếu đối với cuộc sống của con người, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Lịch sử phát triển cho thấy các nền văn minh của loài người đều gắn liền với các dòng sông và nguồn nước. Từ nền văn minh cổ đại Ai Cập, Asiro-Babilon, La Mã ..gắn với sông Nil, sông Tigris, nền văn minh Ấn Độ với sông Indus, văn minh Trung Quốc với sông Hoàng Hà, nền văn minh Khơ Me một thời gắn với sông Mê Công v..v. Có thể nói nước- nguồn tài nguyên quyết định sự tồn vong và phát triển của bất cứ quốc gia, dân tộc nào trên trái đất.

Trên thế giới, nước bao phủ 71% diện tích của trái đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại là nước ngọt. Trong 3% lượng nước ngọt có trên quả đất thì có khoảng hơn 3/4 lượng nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên lục điạ, chỉ có 0,5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được .Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường.

Con người ngày càng nhận thức được rằng nước là nguồn tài nguyên có thể tái tạo, nhưng không phải là vô hạn và rất dễ bị tổn thương và cạn kiệt. Nguồn nước sẽ ngày càng khan hiếm mà nguyên nhân lại do chính con người tạo ra. Gây ô nhiễm, sử dụng quá mức, và quản lý yếu kém gây nên cạn kiệt nguồn nước, tạo ra những mâu thuẫn và tranh chấp. Đồng thời biến đổi khí hậu góp phần làm gia tăng thêm những mối lo về cạn kiệt nguồn nước và gia tăng những thiên tai, hiểm họa do nước gây ra. 

Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về Tài nguyên nước thì hiện tại có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới thiếu nước, đến 2025 con số này sẽ là 2/3 số quốc gia. Châu Á có 1/3 số dân không có nước sạch. Nhân loại 6 tỉ người đang sử dụng 70-80% nước cho lương thực, hiện tại dân số đã là 7 tỷ và vào giữa thế kỷ 21 sẽ là 8-9 tỉ người, nước cung cấp cho sản xuất ra lương thực cho số người gia tăng sẽ vô cùng lớn so với hiện nay. Thiếu nước sạch, đem đến nhiều hiểm họa cho con người hiện đại, 5 triệu người chết hàng năm do các bệnh lây đường nước, chủ yếu là trẻ em. 

Mối lo về nước không phải của riêng một quốc gia nào. Nước, tài nguyên nước cho con người và phát triển bền vững đang trở thành những tâm điểm lớn cho nhiều diễn đàn lớn thế giới.  Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) tại Rio de Janeiro, Brazil, năm 1992  đã đề ra nghị trình 21 với danh sách ưu tiên của thế giới từ việc duy trì, bảo vệ tự nhiên hơn là phá hủy nó đến thiết lập một cơ cấu LHQ để kìm hãm các lực lượng làm thay đổi khí hậu, khiến sa mạc hóa và mất dần các giống loài. Năm 1992 hội nghị quốc tế Dublin thông qua bốn nguyên tắc về nước và phát triển bền vững  liên quan đến sinh thái, thể chế, xã hội và kinh tế, bao gồm i) Nước sạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, dễ bị tổn thương, cần cho sự sống, phát triển và môi trường. Do đó tiếp cận sử dụng tổng hợp phải tính đến các thành phần cán cân nước, hoạt động phát triển và tác động tại mỗi vùng thượng hạ lưu, sử dụng đa mục đích, liên kết đa ngành, gắn kết xã hội loài người và thiên nhiên; ii) Phát triển và quản lý nguồn nước cần dựa trên tiếp cận có sự tham gia của các bên có liên quan thuộc khu vực công cộng và tư nhân, các cộng đồng và những người sử dụng nước, các nhà lập kế hoạch, hoạch định chính sách ở mọi cấp để đạt tới các thỏa thuận chung có tính lâu dài và cùng chịu trách nhiệm, chia sẻ, chấp nhận hy sinh để nâng cao hiệu quả dùng nước và bảo vệ nước; iii) Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc bảo vệ, quản lý và tiết kiệm nước, nên cần phải tính tới họ trong các dự án phát triển, dành cho họ cơ hội có tiếng nói tham gia và được hưởng lợi; và iv) Nước có giá trị kinh tế đối với mọi đối tượng sử dụng và cần phải được coi là hàng hoá xã hội và kinh tế, được định giá, phân phối hợp lý. 

Đồng thời với 3 tiêu chí quan trọng nhất phải xem xét trong quản lý tài nguyên nước, gồm, i) Hiệu quả kinh tế trong sử dụng nước: Vì sự khan hiếm nước ngày càng trầm trọng và thiếu nguồn tài chính, nguồn tài nguyên hữu hạn và dễ bị tổn thương của nước và nhu cầu về nước ngày càng tăng. Vì vậy nước cần được sử dụng có hiệu quả cao nhất; ii) Bình đẳng:  Quyền cơ bản đối với mọi người là có nước đủ về số lượng và an toàn về chất lượng để duy trì sự sống của loài người;  iii) Tính bền vững về môi trường và sinh thái: Việc sử dụng tài nguyên hiện tại phải được quản lý theo cách không làm suy yếu hệ thống hỗ trợ duy trì sự sống, hài hòa sử dụng nguồn tài nguyên cho hôm nay và cho các thế hệ mai sau.

Năm 2000, Liên hiệp quốc đã đưa ra mục tiêu thiên niên kỷ, đưa ra mục tiêu là đến 2005 quốc gia nào cũng có chương trình hành động quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Năm 2000, Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (Global Water Partnership – GWP- một tổ chức mạng lưới liên chính phủ và xã hội dân sự lớn nhất về nước đã đưa ra định nghĩa về Quản lý tổng hợp tài nguyên nước  “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) là một quá trình thúc đẩy phối hợp phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan, nhằm tối ưu hoá các lợi ích kinh tế, xã hội  do các nguồn tài nguyên này mang lại một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu” . Cách tiếp cận này được công nhận và áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới giúp cho công tác quản lý tài nguyên nước được cải thiện.

Năm 2002 tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Johannesburg Nam Phi  đã xếp 5 ưu tiênđể phát triển bền vững được viết tắt là WEHAB:  Nước-W; Năng lượng-E; Sức khoẻ-H; Nông nghiệp-A; và Đa dạng sinh học-B. Nước là ưu tiên hàng đầu cho phát triển bền vững.Sự phát triển bền vững được biểu hiện ở sự cân bằng giữa 3 yếu tố phát triển: Kinh tế hiệu quả - Xã hội công bằng và Môi trường lành mạnh.  

Tài nguyên nước có hiệu ích liên ngành và mang yếu tố cạnh tranh, cần được nhà nước quản lý thống nhất.  Nước cần được lồng ghép vào các chính sách kinh tế xã hội và môi trường quốc gia.  Nước liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi người, mọi ngành kinh tế và phát triển xã hội. Mọi chủ thể với tư cách là người/hộ dùng nước cần được tham gia quá trình quản lý. 

Tài nguyên nước có vai trò trung tâm bảo đảm cuộc sống, sức khỏe của con người, sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của các quốc gia.  Sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội làm gia tăng nhanh chóng nhu cầu nước đồng thời có nhiều hoạt động gây tác động tiêu cực dẫn đến suy thoái và cạn kiệt nguồn nước. Trước thách thức ngày càng lớn đối với tài nguyên nước, thế giới đã lập ra rất nhiều diễn đàn để hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và tìm những giải pháp hữu hiệu hơn để quản lý nguồn tài nguyên quan trọng này. Các diễn đàn nước quan trọng nhất hiện nay có thể thấy là Diễn đàn Nước Thế giới  (World Water Forum-WWF) 3 năm một lần, quy tụ tất cả các chính phủ, các bên liên quan trên khắp thế giới để bàn về các chủ đề về nước. Diễn đàn Nước Đông Nam Á (SEA Water Forum-SEAWF) 2 năm một lần, với sự tham gia của các chính phủ, các nhà khoa học, các bên liên quan của các nước Đông Nam Á và Thế giới trao đổi về chủ đề nước; Tuần lễ Nước Quốc tế Singapo (Singapo International Water Week-SIWW) và Tuần lễ Nước Quốc tế Stockhom, Thụy Điển cũng là 2 diễn đàn lớn về nước được tổ chức hang năm tại 2 quốc gia trên với sự tham gia của các chính phủ và các bên liên quan đến từ tất cả các quốc gia thế giới. Việt Nam (cấp Bộ và các bên liên quan, các nhà khoa học..) tham gia tích cực vào các sự kiện trên.

2.TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA VIỆT NAM – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Tài nguyên nước của Việt Nam không phong phú và chịu nhiều thách thức.
 Việt Nam có 2372 sông có chiều dài trên 10 km. Nếu phân loại theo diện tích lưu vực, có 13 con sông có diện tích lưu vực trên 10.000 km2.  Tổng lượng dòng chảy năm của Việt Nam khoảng 830-840 tỉ m3/năm, trong đó 63% tức khoảng 520-525 tỉ m3 chảy từ các quốc gia láng giềng nằm ở thượng nguồn các lưu vực sông chảy vào Việt Nam. Lượng nước sinh ra từ chính lãnh thổ Việt Nam chiếm 37% tổng lượng dòng chảy năm của đất nước, khoảng từ 310-315 tỉ m3( ).  Lượng nước tính theo bình quân đầu người năm (2010) khoảng 9700 m3, cao hơn 2,4 lần so với Châu Á (3970 m3) và và 1,3 lần so với   Thế giới(7650 m3). Nếu chỉ tính nước nội sinh, bình quân đầu người năm chỉ là 3620 m3/năm. Tài nguyên nước dưới đất (hay còn được gọi là tài nguyên nước ngầm) phân bố rất không đều trong lãnh thổ. 

Những con số trên cho thấy là Việt Nam không phải là quốc gia khan hiếm về nước nhưng tài nguyên nước của Việt Nam  đối mặt với nhiều thách thức và những thách thức này ngày càng lớn:
Tài nguyên nước của Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nguồn nước từ ngoài biên giới quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc các hoạt động sử dụng, phát triển tài nguyên nước trên các sông cùng chia sẻ với Việt Nam của các nước láng giềng sẽ tác động trực tiếp đến nguồn nước của Việt Nam. Việc phụ thuộc nặng nề vào nguồn nước từ bên ngoài được xem là một thách thức lớn cần vượt qua để phát triển và quản lý tài nguyên nước của Việt Nam.  Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy tổng lượng dòng chảy của các lưu vực sông chính của Việt Nam và tỷ lệ đóng góp từ nguồn nước ngoài biên giới quốc gia. 
 
Nguồn : Cục Quản lý Tài nguyên Nước
Biểu đồ 1: Tổng lượng dòng chảy các sông chính ở Việt Nam và tỷ lệ đóng góp nước từ ngoài biên giới

Nước mặt phân bố không đều theo không gian và thời gian: do lượng mưa năm phân bố rất không đều theo mùa dẫn đến có sự phân hóa lớn giữa lượng dòng chảy mùa mưa và mùa khô. Tỷ lệ lượng dòng chảy theo mùa tùy theo vùng là 80-85% tập trung vào 5-6 tháng mùa mưa và chỉ có 15-20% dòng chảy sản sinh và duy trì trong 5-6 tháng mùa khô. Như vậy, về mùa mưa sự tập trung dòng chảy lớn có thể gây nên hiểm họa thiên tai như lũ, lụt. trong khi mùa khô gây nên hiểm họa khác đó là thiếu nước cho con người và hạn hán cho sản xuất. Nhiều vùng nằm trong giới hạn thiếu hoặc hiếm nước. Do nước phân bố không đều giữa các vùng, miền và lưu vực sông, bình quân đầu người hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 mđối với các hệ thống sông Hồng-Thái Bình, sông Mã và chỉ là 2980 m3 ở hệ thống sông Đồng Nai. Theo Hội Tài nguyên Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới 4000 m3 thì thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2000 m3 thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.

Ngoài  thách thức do điều kiện địa lý khu vực chi phối,  tài nguyên nước của Việt Nam cũng đang và sẽ đối mặt với nhiều thách thức có nguyên nhân nội tại. Những thách thức này được nhận thấy rất rõ rệt trong những thập kỷ gần đây khi dân số  gia tăng và đặc biệt sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, các nguyên nhân nội tại có thể bao gồm: 
Lượng nước bình quân đầu người giảm do dân số gia tăng. Lượng nước bình quân đầu người đã giảm khá nhanh từ 12.800 mvào năm 1990, giảm còn 9700 mnăm 2010 và có khả năng chỉ còn khoảng 8300 m3/người vào khoảng năm 2025 khi dân số Việt Nam đạt 100 triệu. 

Tài nguyên nước bị suy giảm và cạn kiệt ô nhiễm. Nguồn ô nhiễm từ nước thải công nghiệp, làng nghề, nước thải sinh hoạt không qua sử lý và hoạt động nông nghiệp vào các dòng sông và nguồn nước dưới đất đang là nguyên nhân chính làm suy giảm nhanh chóng số lượng nước có thể sử dụng được. 

Báo cáo Đánh giá Môi trường Quốc gia 20106 nêu “Đối với các lưu vực sông, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu. Có nơi, ô nhiễm đã ở mức nghiêm trọng, điển hình như vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại khu vực hạ lưu các sông và hệ thống hồ ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vực nội thành, nội thị.

Tuy nhiên mức độ ô nhiễm còn phụ thuộc vào yếu tố thủy văn của dòng chảy. Mức độ ô nhiễm cũng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các sông giảm. Ngoài ra, mức độ ô nhiễm nước còn phụ thuộc mạnh vào hiệu quả kiểm soát các nguồn thải đổ vào nguồn nước. Thực tế hiện nay, do các nguồn thải đổ vào lưu vực sông hầu như chưa được kiểm soát làm cho vấn đề ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng.” 

“Nhìn chung, các đoạn sông chảy qua các khu đô thị, khu vực tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng, sau khi tiếp nhận các nguồn nước thải chưa qua xử lý của các đô thị và của các cơ sở sản xuất thì chất lượng nước thường giảm suát đáng kể. Theo kết quả quan trắc các hệ thống sông chính trên cả nước, nhiều chất ô nhiễm trong nước có nồng độ vượt quá quy chuẩn cho phép, dao động từ 1,5 đến 3 lần. Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài trong nhiều năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của dân cư và làm mất mỹ quan các khu vực.” 

“…Ngoài nguyên nhân do khai thác nước dưới đất quá mức thì hoạt động phát triển các ngành cũng thải ra lượng lớn các chất ô nhiễm theo nước mặt ngấm vào các tầng nước gây ô nhiễm các tầng chứa nước. Hiện nhiều nơi đã phát hiện dấu hiệu ô nhiễm Coliform vượt quy chuẩn cho phép từ hàng trăm đến hàng nghìn lần.”

Đồng thời những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thuỷ vực, lấn chiếm lòng dẫn, các vùng đất ngập nước... đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.

Sự phát triển mạnh mẽ các công trình thủy điện lớn vừa, nhỏ đơn mục tiêu (phát điện) trên hầu khắp các sông suối (trừ sông Mê Công thuộc Việt Nam –Đồng bằng sông Cửu Long) đang gây nên việc sử dụng tài nguyên không hợp lý, gây mâu thuẫn thậm chí xung đột giữa các ngành, các hộ dùng nước, đặc biệt là giữa thủy điện và môi trường, thủy điện và nông nghiệp.Việc xây dựng thủy điện gây nên thay đổi lớn trong điều kiện tự nhiên (Môi trường, sinh thái) của hầu hết các hệ thống sông lớn của Việt Nam, để lại những tác động lâu dài chưa lường hết.

Biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tùy theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Trái đất ấm lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe dọa và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt.

Công tác quản lý tài nguyên nước đã được cải thiện nhưng còn nhiều bất cập. Công tác quản lý tài nguyên nước Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thập niên vừa qua. Năm 1998 với việc công bố Luật Tài nguyên Nước đầu tiên của Việt Nam,  tài nguyên nước đã được  xác định “Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và  “Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”.  

Việt Nam đã chú trọng hơn đến việc phát triển bền vững nguồn tài nguyên này. Việc phát triển các công trình sử dụng tài nguyên nước được xác lập trên cơ sở quy hoạch các lưu vực sông hoặc vùng kinh tế. Phát triển công trình theo hướng đa mục tiêu, hướng tới sự hài hòa lợi ích kinh tế- xã hội- và bảo vệ môi trường. Về thể chế, quản lý tài nguyên nước theo hướng tập trung đầu mối, giảm sự chồng chéo trong quản lý nhà nước. Năm 2002, với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước cơ bản đã thu về một đầu mối. 

Tuy nhiên còn những thách thức từ đó làm cho công tác quản lý tài nguyên nước chưa có hiệu quả, nguồn tài nguyên nước vẫn bị đe dọa, suy thoái và cạn kiệt. Những bất cập chính trong quản lý tài nguyên nước hiện nay là: Chưa thực sự theo phương pháp quản lý tổng hợp và bền vững theo lưu vực sông mà  vẫn theo địa giới hành chính;  chưa có quy hoạch phát triển tài nguyên nước toàn diện trên các hệ thống sông / lưu vực sông, mà thường là quy hoạch từng ngành riêng rẽ, như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch thủy điện.., và cũng chưa có sự kết hợp quy hoạch các tài nguyên thiên nhiên khác, như quy hoạch đất, quy hoạch lâm nghiệp...; Trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa xem xét đến yêu cầu sử dụng nước của các ngành trong toàn lưu vực sông  mà chỉ chú ý đến từng ngành, địa phương riêng lẻ; Khi thiết kế, xây dựng và vận hành các hồ chứa, nhu cầu nước cho duy trì môi trường hạ lưu công trình chưa được xem xét đầy đủ, tạo nên” đoạn sông chết” ờ phía hạ lưu  đập; Việc phân bổ (chia sẻ) nguồn nước giữa các lưu vực sông và giữa các địa phương trong lưu vực cũng chưa được xem xét một cách hợp lý, thường chỉ chú trọng đến lợi ích của một ngành dùng nước (thường là phát điện) và cục bộ địa phương. Trong khai thác, sử dụng nước , nhất là tài nguyên nước dưới đất quá mức, đã và đang gây nên hiện tượng cạn kiệt nguồn nước, sụt lún mặt đất; Vẫn tồn tại một số chồng chéo trong chức năng quản lý tài nguyên nước đặc biệt ở cấp trung ương (Hình 2). Trong khi nguồn nhân lực quản lý tài nguyên nước, đặc biệt ở địa phương thiếu và yếu  cũng là thách thức lớn trong việc quản lý tài nguyên nước cho phát triển bền vững.

 

Việt Nam đang hướng tới trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Mục tiêu đặt ra là rất lớn. Phát triển bền vững "phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu riêng của họ." Ủy ban Brundtland (1987) là con đường duy nhất để đưa đất nước đi lên phục vụ cho mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trong định hướng chung thì hướng phát triển, bảo vệ và quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước phải được nhìn nhận.  Cha ông ta đã dạy  "Vạn vật không có nước không thể sống được, Mọi việc không có nước không thể thành được".   

3.QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC
Sự phát triển bền vững của đất nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố đó là bảo đảm an ninh nguồn nước. Đứng trước trước thách thức tài nguyên nước Việt Nam đang đối mặt, quản lý tài nguyên nước đóng một vai trò hết sức quan trọng – nhân tố hàng đầu bảo đảm phát triển bền vững nguồn nước cho phát triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước. Quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”.

Tiếp cận Quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo  lưu vực sông 
Từ thực trạng quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam cho thấy quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông một cách có hiệu quả là cách tiếp cận phù hợp với điều kiện phát triển hiện tại của Việt Nam.  Cách tiếp cận tổng hợp trong quản lý tài nguyên nước giúp quản lý và phát triển tài nguyên nước một cách bền vững và cân bằng và xem xét toàn diện các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Cách tiếp cận này cũng nhìn nhận các nhóm lợi ích, các ngành kinh tế sử dụng và khai thác nguồn nước, các nhu cầu của môi trường và  các xung đột khác nhau. Cách tiếp cận này giúp  điều phối công tác quản lý tài nguyên nước giữa các ngành và các nhóm lợi ích ở các quy mô khác nhau, từ qui mô địa phương đến quốc tế. IWRM cũng nhấn mạnh đến sự liên quan của các quá trình làm luật và ra xây dựng các chính sách quốc gia, thiết lập cách quản trị tốt, và hỗ trợ  sắp xếp thể chế và điều hành hiệu quả trong một quy trình nhằm tạo ra các quyết định công bằng và bền vững hơn thông qua sử dụng một loạt các công cụ, như đánh giá xã hội và môi trường, các công cụ kinh tế và các hệ thống giám sát và cung cấp thông tin.

Tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông đã được xác lập và áp dụng trong thực tiễn của nhiều nước trên thế giới. Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông ở Việt Nam cũng đã được thể chế hóa với việc ban hành nghị định Quản lý lưu vực sông (Nghị định 120/NĐ-CP, 2008). 

Cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông là cách tiếp cận phù hợp và  hiệu quả nhất giúp chúng ta quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên ngày càng trở nên khan hiếm. Các chính sách sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trong một quốc gia được quy định bởi chính phủ.  Mặc dù việc thực hiện các chính sách này có hiệu quả ở nhiều cấp khác nhau, nhưng khi các chính sách được thực hiện ở cấp lưu vực, vẫn có cơ hội đưa ra các giải pháp “mang tính toàn bộ lưu vực” và để giải quyết các mâu thuẫn giữa thượng và hạ lưu (của một con sông)  hay giữa vùng này với vùng kia (đối với một vùng hồ hay vùng nước ngầm). Cách tiếp cận “toàn bộ lưu vực” cho phép đánh giá tác động một cách hệ thống nhất. Mối quan hệ giữa việc quản lý tài nguyên nước theo ranh giới hành chính trong một quốc gia và quản lý nước trong một lưu vực có một mối quan hệ linh hoạt và mang tính thích nghi đối với sự thay đổi của hoàn cảnh, bất kể sự thay đổi đó liên quan đến kinh tế - xã hội hay môi trường  diễn ra trong một lưu vực. 

Như vậy, một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý tài nguyên nước là quản lý lưu vực sông để điều hòa, phân bổ nguồn nước, phối hợp điều tiết nguồn nước trên sông sử dụng tổng hợp đa mục tiêu, đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ, cấp nước cho hạ du và các mục đích khác. Cần có sự quy định cụ thể các nội dung về quản lý lưu vực sông, phân loại lưu vực sông, tổ chức bộ máy quản lý, điều phối hoạt động có liên quan đến tài nguyên nước trong lưu vực sông; phòng chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và gắn trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về lưu vực sông. Đồng thời cần điều chỉnh, bổ sung các quy định về bảo vệ nước dưới đất, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt; kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép các hoạt động xả nước thải. 

Ở các nước phát triển nhờ có quản lý tốt nên mặc dù tài nguyên nước của họ không dồi dào, thậm chí còn rất nghèo như Đức chỉ có 1301 m3/người, Anh: 2465 m3/người, Pháp: 3047 m3/người, Nhật: 3393 m3/người. Ở các nước này công nghiệp rất phát triển, đô thị rất đông đúc nhưng do sử dụng tốt các công cụ về pháp lý, tổ chức và kinh tế nên tài nguyên nước của họ không hề bị suy thoái, những nơi bị suy thoái đã được khôi phục.

Để thực hiện quản lý tài nguyên nước theo cách tiếp cận quản lý tổng hợp, cần thực hiện những ưu tiên chiến lược sau:
Hoàn thiện cơ sở pháp lý quản lý tài nguyên nước  
Chiến lược Quốc gia tăng trưởng  xanh (9/2012), Mục 7 đã nêu “Xây dựng hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm thực hiện kiên quyết và có hiệu quả Luật Tài nguyên nước, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ Môi trường”.  Quyết tâm chính trị đã được xác lập.  Luật Tài nguyên Nước 2012 là cơ sở pháp lý quan trọng cho  công tác quản lý tài nguyên nước cho phát triển bền vững ở Việt Nam.  Sửa đổi Nghị định 120/2008 về Quản lý Lưu vực sông để phản ảnh đầy đủ quan điểm của Luật Tài nguyên nước 2012 và thực hiện hiệu quả và thiết thực việc tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông. Xây dựng và ban hành các văn bản dưới luật khác liên quan đến thực hiện Luật Tài nguyên nước 2012. Các văn bản này cần có cách tiếp cận tổng hợp và phản ảnh được những nguyên tắc Dublin - được thế giới công nhận. Đặc biệt nguyên tắc nước  phải được xem là hàng hóa.

Tăng cường thể chế và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tài nguyên nước các cấp 
Thể chế quản lý tài nguyên nước Việt Nam đã được tăng cường và hòan thiện  trong nhiều năm qua. Đầu mối quản lý tài nguyên nước đã được thu hẹp và có Bộ đầu mối chịu trách nhiệm thực thi các chính sách, chiến lược quản lý tài nguyên nước quốc gia. Tuy nhiên, như phân tích trên, vẫn cần rà soát lại những vấn đề tồn tại trong  tổ chức quản lý tài nguyên nước ở các cấp, như giảm sự chồng chéo trong các nhiệm vụ liên quan đến quản lý tài nguyên nước giữa các Bộ: Tài nguyên & Môi trường, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng , Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế…

Xây dựng các tổ chức lưu vực sông theo nghị định 120/2008 (sẽ sửa đổi). Tổ chức lưu vực sông phải có vai trò, nhiệm vụ và quyền lực để thực hiện hiệu quả các chức năng được giao, không chỉ là tổ chức hình thức với nhiệm vụ chồng chéo với các cơ quan khác trong hệ thống quản lý hiện hành. Cần làm rõ sự tồn tại và trách nhiệm của các Ban Quản lý Quy hoạch Lưu vực sông và tổ chức lưu vực sông mới.

Tăng cường nguồn lực (nhân và vật lực) cho hệ thống quản lý tài nguyên nước, trung ương và địa phương. Nguồn nhân lực trong bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương (tỉnh, huyện) là một điểm yếu trong hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước, khi số cán bộ kỹ thuật có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nước thiếu và yếu. Nhiều địa phương không có cán bộ chuyên ngành nước. Cần xây dựng chương trình lâu dài đào nâng cao năng lực cho lực lượng cán bộ ngành nước ở tất cả các cấp. 

Trang thiết bị cho quản lý nước ở địa phương cần được tăng cường-địa phương (tỉnh) cần có trách nhiệm trực tiếp tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên nước trong lưu vực sông trên địa bàn theo chức năng.

Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước theo lưu vực sông có vai trò rất quan trọng giúp cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước hiệu quả. Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước lưu vực sông có thể bao gồm: Đánh giá về thực trạng khai thác và sử dụng nước đối với từng vùng, từng lưu vực, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về nước ở từng vùng, khu vực và từng hệ thống. Đánh giá xác định khối lượng và chất lượng nguồn nước, dự báo khả năng biến động của nguồn nước. Xác định nhu cầu và nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, giao thông, du lịch và các hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác và đảm bảo yếu tố môi trường. Xác định các nguyên tắc và mục tiêu phân bổ, kiểm soát vấn đề về khai thác và sử dụng nguồn nước, xác định yêu cầu nước đảm bảo cho môi trường, duy trì dòng chảy môi trường .v.v.

Nâng cao nhận thức các bên liên quan trong bảo vệ, phát triển tài nguyên nước 
Cần có chiến lược  lâu dài nâng cao nhận thức  bảo vệ tài nguyên nước cho các bên liên quan bao gồm từ chính quyền các cấp địa phương, các nhà đầu tư, cộng đồng…

Nước là nguồn sống của mọi con người, là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội. Nước quyết định sự tồn vong của một quốc gia-dân tộc. Góp phần vào thực hiện các chiến lược phát triển đất nước, quản lý tài nguyên nước cho phát triển bền vững cũng là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân, của các cấp chính quyền, các Bộ ngành, các doanh nghiệp, cộng đồng. 

Tăng cường hợp tác quốc tế  trong quản lý  tài nguyên nước 
Việt Nam là một quốc gia phụ thuộc nặng nề vào nguồn nước của các quốc gia thượng lưu, vì vậy cần có một chiến lược tăng cường hợp tác quốc tế mạnh mẽ trong quản lý tài nguyên nước nói chung và các lưu vực sông liên quan quốc tế. Việt Nam cần sớm phê chuẩn “Công ước Quốc tế về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích phi giao thông thủy” mà Việt Nam đã cùng với 103 quốc gia tham gia ký kết năm 1997. Tăng cường hợp tác Mê công để thực hiện “Hiệp định phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công 1995” nhằm bảo vệ nguồn tài tài nguyên nước cho phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, một trong 2 đồng bằng quan trọng của Việt Nam- bảo đảm an ninh lương thực cho Việt Nam và góp phần quan trọng bảo đảm an ninh lương thực cho nhiều khu vực trên thế giới. Tham gia tích cực và đưa các sáng kiến về hợp tác bảo vệ, phát triển và quản lý tài nguyên nước cho phát triển bền vững tại các diễn đàn hợp tác khu vực (ASIAN, LMC, LMCT, WWF, SEA WWF …)
TS. Đào Trọng Tứ
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: