TRẦM TÍCH VÀ QUẢN LÝ TRẦM TÍCH LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CỦA VIỆT NAM


10:00 24/06/2015
CEWAREC.org - Trầm tích và tầm quan trọng của trầm tích đối với môi trường, sinh thái, động học các dòng sông và phát triển kinh tế xã hội của con người.


Trầm tích (cũng thường được gọi là phù sa hay bùn cát. Tiếng Anh sediment hoặc silt, hay alluvium)  là các chất vô cơ hoặc hữu cơ do phong hóa và xói mòn đất đá tạo ra được vận chuyển theo dòng chảy hoặc lắng đọng ở sông, hồ. Thành phần trầm tích có kích cỡ khác nhau thể là đất, cát, sỏi, đá nhỏ. Người ta thường phân trầm tích thành 2 loại, trầm tích nhỏ chảy theo dòng nước gọi là trầm tích lơ lửng (suspended sediment load) hoặc trầm tích đáy là các trầm tích có kích thước/trọng lượng lớn hơn được dòng chảy tải đi ở các lớp nước sát đáy sông, hồ (bed suspended material load) . Các loại trầm tích vô cơ trong quá trình vận chuyển và lắng đọng có thể cuốn theo, bao bọc bởi chất hữu cơ tạo nên môi trường sống cho nhiều động thực vật và bồi bổ đất đai khi chúng lắng đọng (dân gian thường gọi trầm tích là phù sa - Sông Hồng đỏ nặng phù sa!). Trên một dòng sông “tự nhiên”, môi trường sống và thành phần các loài chịu tác động mạnh mẽ bởi trầm tích. Khoảng 1/3 đến 2/3 hàm lượng nitơ và phốt pho của một con sông gắn liền với trầm tích nhỏ, và nitơ và phốt pho là hết sức cần thiết cho sức khỏe của hệ sinh thái và tính đa dạng sinh học . Đồng thời trầm tích cũng cuốn theo các vật chất ô nhiễm vô cơ và hữu cơ do hoạt động của con người thải ra trên mặt lưu vực hoặc xuống lòng sông, hồ.

Khi con người chưa có tác động lên các dòng sông, trầm tích các dòng sông được hình thành và vận chuyển, tùy điều kiện tự nhiên của từng lưu vực (địa hình, địa chất, địa mạo…) và là một thành phần quan trọng cho đời sống của các động thực vật thủy sinh, là yếu tố tạo nên cân bằng động lực học dòng chảy của một dòng sông. Dòng sông bên lở bên bồi chính là tác động của dòng chảy tự nhiên với sự góp mặt của yếu tố trầm tích. Trầm tích cũng có tác động đến chất lượng nước của sông hồ (độ đục, chứa các chất ô nhiễm…).

Trầm tích với những đặc tính của nó có nhiều vai trò trong tự nhiên cũng như trong đời sống của con người: i) Một yếu tố trong cân bằng động học dòng chảy sông ngòi - xói lở và bồi lắng bờ và đáy sông; ii) Môi trường sống cho nhiều loại động thực vật thủy sinh đặc biệt là cá; iii) Hình thành nên và bồi đắp cho các châu thổ màu mỡ - nơi tạo nên nguồn lương thực, thực phẩm  chính cho con người; và iii) tác động giảm sói lở bờ biển; iv) trầm tích  cát, sỏi cũng chính là nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ cho mục đích phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhỏ, xây dựng dân dụng, san lấp mặt bằng v..v.  Như vậy trầm tích là thành phần quan trọng của dòng sông, của sự sống, sự phát triển của con người và xã hội.

Tác động của con người đến trầm tích và hậu quả
Ngoài nguyên nhân biến động thời tiết, khí tượng thiên nhiên, tác động lên lưu vực làm thay đổi trầm tích, các tài liệu nghiên cứu đến nay đều khẳng định nhiều tác động của con người đến trầm tích làm cho sinh thái, môi trường, địa hình địa mạo dòng sông thay đổi theo hướng tiêu cực, từ đó dẫn đến hậu quả cho chính môi trường và điều kiện sống con người và phát triển kinh tế. Các tác động của con người đến trầm tích đang được nghiên cứu, bao gồm:

- Xây các hồ chứa để điều tiết nguồn nước các sông, suối cho phát điện, chống lũ, cấp nước hay tưới, một phần lớn trầm tích sẽ bị giữ lại trong lòng hồ. Một mặt khả năng chứa và tuổi thọ các hồ chứa sẽ bị giảm dần theo thời gian vì sự chiếm chỗ của trầm tích. Chất lượng nước các hồ sẽ bị ảnh hưởng. Đồng thời việc giữ lại vật liệu trầm tích trong các lòng hồ, dòng sông sau đập sẽ chịu nạn “đói trầm tích/phù sa”. Trên một dòng sông càng nhiều hồ thì sự “đói” sẽ càng lớn. Tác động tiêu cực của sự đói này là sẽ tăng xói lở bờ, đào sâu đáy sông - làm nhiều vùng bờ bãi, làng mạc ven sông hình thành lâu đời sẽ trôi theo dòng chảy – mực nước tự nhiên trước đây của dòng sông bị hạ thấp (với cùng cấp lưu lượng) và gây khó khăn cho các hoạt động lấy nước, giao thông thủy – một lợi ích lớn trong khai thác vận tải trước đây cũng như ngày nay - ở nhiều đoạn sông.

- Khai thác cát, sỏi: Cùng với sự phát triển dân số, phát triển kinh tế, nhu cầu cát sỏi ngày càng lớn, người ta tiến hành khai thác cát, sỏi sông một cách ồ ạt (có phép và không phép). Lượng khai thác cát (dùng nội địa và xuất khẩu) được đánh giá nhiều hơn rất nhiều so với lượng trầm tích giữ lại trên hồ. Một lần nữa - động học sông lại có biến động lớn - hậu quả xảy ra chắc không khó dự báo.

- Phá rừng và thay đổi sử dụng đất: Phá rừng đầu nguồn, canh tác du canh, chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, tạo nên vùng đất trống đồi núi trọc và tăng khả năng rửa trôi, sói bề mặt - trầm tích dạng đáy tăng đáng kể - và hậu quả đầu tiên là các hồ chứa phải gánh chịu và sau đó là hạ lưu. 

- Xả thải vào nguồn nước: các dòng sông, hồ ao đang chịu sức ép lớn bởi việc xả thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của con người - các chất ô nhiễm hòa trong nước hoặc gắn với các vật liệu trầm tích sẽ lưu giữ và vận chuyển làm nguồn nước không có khả năng sử dụng - ô nhiễm nước là một trong những nguyên nhân quan trọng làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên nước.

Những tác động trên của con người  đến thiên nhiên nói chung và trầm tích nói riêng nếu không bền vững, có thể nói,  sẽ gây nên hậu quả khôn lường cho hôm nay và mai sau. 
- Thay đổi địa hình, địa mạo các dòng sông: quá trình sói lở bờ và đáy sông diễn biến phức tạp hơn theo chiều hướng bất lợi. 
- Sự suy thoái chất lượng nước sông hồ, dẫn đế suy thoái hệ động thực vật thủy sinh, tác động lớn đến nguồn lợi thủy sản. 
- Làm bạc màu và suy thoái đất các vùng đất châu thổ, sự chìm xuống các châu thổ. 
- Gia tăng quá trình sói lở bờ biển.
Những dẫn chứng cụ thể của những tác động đến trầm tích ở một số lưu vực sông ở Việt Nam cho thấy tác động tiêu cực của phát triển đến trầm tích dẫn đến hậu quả lớn cần được nhìn nhận.

Sông Hồng - Thái Bình

Lòng dẫn sông Hồng, sông Lô, sông Đuống trong những năm gần đây đang bị xói sâu và mở rộng mặt cắt ướt ở nhiều đoạn. Sông Lô bị xói sâu 6 – 8 m có nơi 9 - 12m; sông Đuống xói sâu 4 - 5 m; sông Hồng có nhiều đoạn xói sâu đến 5m. Hiện tượng xói lòng sông và mở rộng mặt cắt trên nhiều sông rất nghiêm trọng. Đoạn từ Sơn Tây đến Hà Nội hiện tượng xói chiếm ưu thế chủ đạo có những mặt cắt xói sâu và rộng lên đến 20 - 25%. Nguyên nhân: Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của nhiều chuyên gia có thể đưa ra những nguyên nhân chính sau đây:  
-     Do bồi lắng bùn cát tại các hồ chứa trên hệ thống sông Hồng. Hiện nay theo tài liệu điều tra được trên hệ thống sông Hồng (kể cả Việt Nam và Trung Quốc). Ở Trung Quốc có 52 hồ chứa đã đang và sẽ xây dựng trong đó có 8 hồ chứa đã xây dựng xong. Còn ở Việt Nam gồm có Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng, Nậm Chiến, Thác Bà, Bắc Hà, Tuyên Quang, Chiêm Hóa, Nho Quế… với số lượng hồ nhiều như vậy, lượng bùn cát lắng đọng trong lòng hồ rất lớn gây ra hiện tượng xói lòng sông ở hạ lưu theo đúng qui luật dòng chảy.
-     Do khai thác cát với một khối lượng khổng lồ trên toàn bộ hệ thống sông. Hiện nay chưa có một số liệu thống kê về khối lượng khai thác cát hàng năm trên sông nhưng có thể nói rằng khối lượng khai thác cát là cực kỳ lớn đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây nhằm phục vụ cho việc xây dựng đường sá và các khu đô thị. Số lượng khai thác cát đã vượt quá xa khả năng bồi đắp trở lại của bùn cát của dòng chảy trong sông. 

Đồng bằng Sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 265 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển, tổng chiều dài hơn 450 km.  Hầu hết bờ biển của Đồng bằng sông Cửu Long đều bị xói lở với nhiều mức độ khác nhau.  Nguyên nhân gây sạt lở có rất nhiều, trong đó đáng chú ý là nguyên nhân xuất phát từ yếu tố con người như: Chặt phá, khai thác tài nguyên vùng đầu nguồn bừa bãi, khai thác cát, sỏi trái phép, xây dựng các công trình không hợp lý, phát triển các hoạt động dân sinh, kinh tế biển không theo quy hoạch. Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng nguy hiểm và đáng báo động, tuy nhiên, theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, đến nay cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu bảo vệ đặc trưng riêng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng đất này. 
Những năm gần đây, mỗi năm sạt lở đã “ngốn” đến 500 héc ta đất của vùng với tốc độ sạt lở dọc theo bờ biển lên đến 30-40 mét/năm.

Lưu vực Vu Gia-Thu Bồn:

Xói lở bờ biển Cửa Đại, thnahf phố Hội An –Quảng Nam và vấn đề trầm tích

Tuyến bờ biển Cửa Đại dài khoảng 7,6km, qua các phường Cẩm An, Cửa Đại (TP Hội An), kéo dài từ Cửa Đại đến hết TP Hội An, và tiếp tục kéo dài đến hơn 20km đến bán đảo Sơn Trà. Trong những năm gần đây, vùng bờ biển Hội An bị biến động sạt lở nghiêm trọng, dãy cát ven biển bị nước biển xâm thực, cuốn trôi khoảng 25ha. Riêng tuyến đường ven biển Âu Cơ ở khu vực biển Cửa Đại bị sạt lở hơn 160m, hiện chỉ cách biển khoảng 40m. Biển xâm thực mạnh đã khiến nhiều điểm du lịch, nghỉ dưỡng, khu dân cư đứng trước nguy cơ xói lở.  Trước thực trạng trên, 24/12, tại thành phố Hội An, UBND tỉnh tổ chức Hội thảo khoa học tìm giải pháp phòng chống sạt lở bờ biển phục vụ du lịch và phát triển bền vững khu vực Cửa Đại. Hơn 100 nhà khoa học, chuyên gia đến từ các Viện nghiên cứu, trường Đại học trong và ngoài nước, và lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương của tỉnh. 

Giáo sư, Tiến sĩ Hitoshi – Trường Đại học Thohoku (Nhật Bản)  cho rằng tình trạng sạt lở bờ biển Hội An như hiện nay là hệ lụy của việc xây dựng quá nhiều các hồ chứa, nhất là hồ chứa thủy điện dẫn đến một lượng các lớn bị giữ lại tại các hồ chứa khiến vùng hạ du bị thiếu hụt lượng các hàng năm. Vì vậy khi sóng biển vào quá gần bờ dẫn đến phá hủy bờ biển. Đồng quan điểm với Giáo sư, Tiến sĩ Hitoshi, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thanh Ca – Viện trưởng Viện nghiên cứu Biển và Hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam) nhận định: Trước kia, bờ biển Hội An đã ổn định, thậm chí lấn ra biển trong một thời gian rất dài dù chịu tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên trong khoảng 10 năm gần đây, các đập thủy lợi và thủy điện xây dựng trên thượng nguồn các con sông đổ ra khu vực bờ biển Hội An, đặc biệt là sông Thu Bồn đã chặn một lượng rất lớn bùn cát do các con sông tải ra biển. Do thiếu hụt cát cung cấp cho khu vực bờ biển nên hiện tượng xói lở bờ biển đã và đang xảy ra dữ dội tại khu vực bờ biển Hội An. “Nếu không có giải pháp bảo vệ bờ biển thích hợp, hiện tượng xói lở sẽ có nguy cơ mất toàn bộ dải đất ven biển của Hội An, đe dọa nghiêm trọng hoạt động du lịch của thành phố này”, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thanh Ca nói.

Tại hội thảo, các nhà khoa học, các chuyên gia cũng đề nghị tỉnh cần nghiêm cấm việc hút cát tại hạ lưu sông Thu Bồn và toàn bộ dải ven biển của tỉnh; xây dựng và thực hiện dự án nghiên cứu, xác định rõ quá trình vận chuyển bùn cát và nguyên nhân xói lở bờ biển Hội An;… Đồng thời giới thiệu một số giải pháp bảo vệ bờ biển như: nghiên cứu nuôi bãi phòng chống xói lở; ứng dụng mỏ hàn, đê ngầm tạo bãi chống xói bờ biển. 

Hiện tượng xói lở bờ biển ngày càng gia tăng là hệ quả của nhiều tác nhân, như khai thác nước ngầm quá lớn cho nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt ở vùng ven biển có nền đất yếu; nước biển dâng và triều cường do biến đổi khí hậu; xây dựng đập thủy điện, tình trạng phá rừng ngập mặn, hút cát ở các cửa sông/lòng sông gần biển... Các nguyên nhân này phát triển khác nhau tùy từng đoạn bờ biển cụ thể, nhưng tác động của chúng thường là "cộng hưởng".

Sông Đồng Nai
Diễn biến bồi tụ, xói lở hạ lưu sông Đồng Nai có thể được phân chia thành 2 thời kỳ trước và sau khi xây dựng đập Trị An (1988). Giai đoạn trước khi có đập, trắc diện dọc của sông phần hạ lưu về cơ bản đã cân bằng, sông uốn khúc mạnh. Độ sâu của trắc diện dọc cân bằng với các giá trị trung bình: 12-13 m (đoạn ngã ba sông Sài Gòn - ngã ba sông Lòng Tàu); 13-14 m (ngã ba sông Lòng Tàu - ngã ba sông Vàm Cỏ); 1316 m (sông Lòng Tàu). Theo xu thế đó, độ sâu trắc diện dọc cân bằng ở đoạn ngã ba sông Vàm Cỏ - cửa Soài Rạp là 14-16 m.

Giai đoạn sau khi có đập: sông bị xói sâu mạnh dẫn đến lở bờ mạnh và nhanh do hai nhân tố chính: i) do thiếu hụt trầm tích và mực xâm thực cơ sở bị hạ thấp; ii) do khai thác cát dọc sông. Theo quan trắc tại các trạm Bình Chánh, Cát Lái, lượng phù sa đã giảm 70-90 % so với trước khi có đập Trị An (Nguyễn Nhã Toàn, 2001). Mực xâm thực cơ sở bị hạ thấp trung bình khoảng 4 m tại cửa sông Lòng Tàu, cửa Soài Rạp. Một vài năm trở lại đây, đáy sông có xu hướng san bằng, bồi tụ.

Quản lý trầm tích lưu vực sông Mê Công và ĐBSCL
Việc quản lý các trầm tích ở các lưu vực sông và đường thủy là một vấn đề quan trọng đối với các nhà quản lý nguồn nước trong lịch sử - từ thời Ai Cập cổ đại quản lý trầm tích ở vùng ngập để cung cấp chất dinh dưỡng cho mùa màng, đến ngày nay những thách thức của việc bồi lắng ở các hồ chứa lớn. Những thay đổi trong tự nhiên của vấn đề trầm tích do gia tăng dân số, thay đổi cơ cấu sử dụng đất, tăng nhu cầu sử dụng nước và đặc biệt việc xây dựng các đập trên các dòng sông đã làm thay đổi lớn vận chuyển phù sa, tác động đến môi trường và vấn đề trầm tích và quản lý trở nên phức tạp và thách thức cho vấn đề quản lý trầm tích.

Ở lưu vực sông Mê Công, có hai nguồn trầm tích chính, đó là tiểu lưu vực sông Lancang (Lan Thương) và vùng ‘3S’ gồm 3 dòng nhánh của sông Mê Công là Sê Kông, Sê San và Srêpốk. Hai nguồn trầm tích này được cho là sản sinh khoảng 70% lượng trầm tích tìm thấy ở sông Mê Công  Số liệu về trầm tích ước tính khoảng 150 đến 170 triệu tấn/năm (50% từ thượng nguồn Mê Công ở Trung Quốc).  Ước tính khoảng 2/3 lượng phốt pho trên sông Mê Công là gắn với trầm tích . Một số tính toán cho rằng tải lượng trầm tích lơ lửng kích thước nhỏ cấp cho vùng ngập lũ và châu thổ sông Mê Công là khoảng 26.400 tấn mỗi năm Đồng bằng sông Cửu Long được tạo ra bởi phù sa sông Cửu Long ít nhất là từ 6000 năm trước đây. Con người định cư ở đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đời, bắt đầu được biết đến từ thời Phù Nam cách đây khoảng hai ngàn năm qua di chỉ Óc Eo ở Long Xuyên và Kiên Giang. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, thì hiện nay (2007) mật độ dân cư ở đồng bằng là 435 người/km2, cao thứ hai sau đồng bằng sông Hồng (5). Khoảng 17 triêu (20% dân số cả nước) sống ở đồng bằng sông Cửu Long và tăng trưởng 2.5% mỗi năm.

Châu thổ ở Việt Nam, theo tính toán của một số nghiên cứu, mỗi năm có khoảng 79 triệu tấn trầm tích chảy về đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, trong đó 9 đến 13 triệu tấn lắng đọng ở các đồng bằng ngập lũ và phần còn lại góp phần mở rộng châu thổ và làm phì nhiêu các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển (Huang và Tamai, 1999; Fox và Sneddon, 2005). Lượng trầm tích lắng đọng ở các vùng nước nông ven biển giúp bảo vệ bờ biển khỏi bị xói lở do sóng. Giảm nguồn cấp trầm tích sẽ làm tăng xói mòn ven biển (Wolanski và cộng sự, 1996), quá trình này có thể còn nghiêm trọng hơn do nước biển dâng dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Xói lở bờ sông ở hạ lưu các hồ chứa do hậu quả của nước đói phù sa chỉ bù đắp được phần nào lượng trầm tích bị giữ lại ở các hồ chứa (MRC, 2010:73). Ước tính, đến năm 2050 khoảng 1 triệu người sẽ bị tác động trực tiếp bởi xói lở ven bờ và mất đất ở đồng bằng sông Cửu Long (IPCC, 2007).

Nền nông nghiệp và đánh bắt thủy hải sản của Việt Nam phụ thuộc vào vận chuyển chất dinh dưỡng trong trầm tích (Wild và Loucks, 2012; ICEM, 2010). Giảm tải lượng trầm tích có thể làm tăng mạnh chi phí cho cả nông nghiệp và thủy sản biển. Phát triển nông nghiệp và đô thị hóa có thể cung cấp các nguồn dinh dưỡng thay thế nhưng tác động chính xác của các hoạt động này đối với vùng châu thổ vẫn chưa được hiểu rõ (ICEM, 2010). 

Quản lý trầm tích bền vững - thách thức lớn đối với ĐBSCL
Trầm tích sông Mê công chịu tác động lớn của nhiều yếu tố, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy điện trên lưu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia). Sự phát triển diễn ra ngày càng mạnh mẽ và tác động đến nguồn nước và trầm tích đến ĐBSCL cũng ngày càng lớn. Đến nay trên dòng sông Mê Công Trung Quốc đã xây 5 đập lớn và dự kiến 2020 là 12. Lào đang xây dựng đập Xayabury và dự kiến 9 con đập khác sẽ xây trong tương lai, Campuchia 2 và hàng trăm hồ chứa thủy điện và thủy lợi xây trên dòng nhánh ở các quốc gia trong lưu vực.

Các đập trên sông Mê Công sẽ chặn lại bao nhiêu trầm tích? Tải trầm tích là mối lo ngại lớn xuyên biên giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy chuyển tải trầm tích từ thượng lưu sông Mê Công đã giảm đi trong những năm gần đây mặc dù quy mô thay đổi khác nhau. Theo một số nghiên cứu, lượng giảm đi có thể cao đến 50% tại tuyến đập kể từ khi hoàn thành đập Manwan trên sông Lan Thương năm 1993 (Lu và Siew, 2006; Fu và He, 2007; Kummu và Varis,  Các con đập giữ lại lượng trầm tích rất lớn. Trong 10 năm đầu vận hành, đập Manwan đã mất đi 20% dung tích trữ do trầm tích lắng đọng, tức là dòng chính sông Mê Công mất đi 20 triệu m3 trầm tích. Ước tính, toàn bộ bậc thang đập trên sông Lan Thương sẽ giữ lại khoảng 90% lượng trầm tích từ thượng lưu sông Mê Công xuống hạ lưu . Những tác động do thay đổi trầm tích đã được nêu ở phần trên.

Quản lý trầm tích bền vững phải tính đến lưu vực đầu nguồn, sông, hồ chứa  và tác động lũy tích của các bậc thang đập. Quá trình này sẽ gồm đánh giá lắng đọng trầm tích, xem xét lựa chọn tuyến, thiết kế đập phù hợp và chiến lược vận hành, giám sát và quản lý thống nhất.

Các nhà quy hoạch đập phải xác định phương pháp phù hợp cho mỗi đập. Quản lý trầm tích trên một bậc thang đập đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan của chính phủ, các nhà quy hoạch và các nhà vận hành đập và nhiều cơ quan bảo vệ môi trường cũng như sinh kế của người dân sống dựa vào sông và các hệ sinh thái của sông (MRC, 2009). Có thể giảm thiểu tác động của giảm tải lượng trầm tích thông qua các quá trình khác không? Một ý tưởng đang được lưu truyền là tăng sử dụng phân bón có thể bù đắp cho việc giảm chất dinh dưỡng do giảm hàm lượng trầm tích lơ lửng. Vấn đề này chưa được kiểm chứng. Có thể phần lớn trầm tích có nhiều chất dinh dưỡng bắt nguồn từ miền núi (đặc biệt là ở Trung Quốc), trong đó phân bón sẽ không bù đắp được cho quy mô thiệt hại về chất dinh dưỡng. Cần có thêm số liệu để hiểu rõ hơn chu trình chất dinh dưỡng của sông Mê Công .

Các nhà quy hoạch, quản lý và hoạch định chính sách về đập cần thực hiện một cách cẩn trọng, ngay cả khi xây dựng những con đập có tính đến quản lý trầm tích thích nghi và có xem xét thỏa đáng đến tính không chắc chắn (Thorne và cộng sự, 2011). Do tính phức tạp của sự tương tác giữa trầm tích, chất dinh dưỡng, các hệ sinh thái và nhiều biến số khác nên cần giám sát chặt chẽ các “thử nghiệm trong đời thực”.

Nhận xét
Trầm tích sông Mê Công có một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình bồi đắp và phát triển kinh tế - xã hội của ĐBSCL của Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự biến động thiên nhiên, sự phát triển kinh tế xã hội đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ đang tác động lớn đến nguồn phù sa đến ĐBSCL cả số lượng và chất lượng dẫn đến những tác động lớn đến môi trường sinh thái, phát triển kinh tế của  vùng trọng điểm kinh tế và sản xuất lương thực lớn của đất nước. Chúng ta cần nhìn nhận vai trò quan trọng của quản lý trầm tích ĐBSCL để tìm ra những giải pháp hữu hiệu trước các thách thức hiện nay.
- Nghiên cứu và đánh giá khoa học và toàn diện trầm tích và vai trò của trầm tích đối với ĐBSCL. Nghiên cứu này kế thừa các nghiên cứu trong nước và đã được Ủy hội sông Mê Công thực hiện đến nay. 

- Xây dựng chiến lược quản lý trầm tích bền vững trong khuôn khổ hợp tác Ủy hội sông Mê Công.

- Xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động ưu tiên quản lý trầm tích trong phạm vi ĐBSCL. 

Hà Nội, 25/6/2015 
Tài liệu Tham khảo:
1. UNESCO-International Sediment Initiative (2011). Sediment Issues & Sediment Management in Large River Basins   Interim Case Study Synthesis Report.

2. CGIAR Challenge Program on Water and Food – Mekong Programme –CPWF (2013). Những vấn đề cơ bản về trầm tích sông Mê Công.

3. Nguyễn Đình Thái (2014). Nghiên cứu biến động môi trường trầm tích  trong holocen muộn phục vụ quy hoạch  phát triển bền vững khu vực cửa sông Đồng Nai. Tóm tắt luận án Tiến sỹ.

4. Nguyễn Thanh Hùng (2013).  Phân tích xác định nguyên nhân gây sạt lở kè xuân canh, đê tả sông Đuống.  Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường - số 41 (6/2013).

5. Jon Cook & Dao Trong Tu (2013).  Are Vietnams deltas dying?  Agricultural Science 
Volume 25 Issue 2 (Aug 2013).

6. WWF Brief (July 2012). Mekong river at risk.

7. Marc GOICHOT- WWF (2013). Report on Knowledge of sediment transport and discharges in relation to fluvial geomorphology for assessing the impact of large-scale hydropower projects  

8. Nguyễn Đức Hiệp (2007). Môi trường động và thực vật đồng bằng sông Cửu Long.

9. Văn phòng Thường trực, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Thiên tai (7/6/2015).  Hội thảo “Kiểm soát sạt lở bờ sông Đồng bằng sông Cửu Long- thách thức và giải pháp” tại Sóc Trăng ngày 6-7/06/2015.  http://www.ccfsc.gov.vn/tin-tuc/hoi-thao-kiem-soat-sat-lo-bo-song/-c218.html.
10. Trang điện tử UBND Quảng Nam (2014).  Hội thảo Hội thảo khoa học tìm giải pháp phòng chống sạt lở bờ biển phục vụ du lịch và phát triển bền vững khu vực Cửa Đại 12/2014.  http://quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=15972.

11. Hội Đập lớn và Phát triển Nguồn nước Việt Nam. Tóm tắt ý kiến chung tại Tọa đàm về nguồn nước hạ du sông Hồng. http://www.vncold.vn/Web/Content.aspx?distid=3752.

TS. Đào Trọng Tứ
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: