Nghiên cứu tác động của than và nhiệt điện than đến nguồn nước



Normal 0 false false false false EN-US X-NONE X-NONE



1.      TỔNG QUAN

Năng lượng đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia và nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng do sự gia tăng về dân số và sự phát triển kinh tế mạnh mẽ. Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 điều chỉnh, tổng công suất lắp đặt và sản lượng điện của nhiệt điện than chiếm một phần lớn trong cơ cấu nguồn điện quốc gia.

Bảng 1: Cơ cấu nhiệt điện than

Năm

2020

2025

2030

Công suất (MW)

26.000

(42,7%)

47.600

(49,3%)

55.300

(42,6%)

Sản lượng (tỷ KWh)

131

(49,3%)

220

(55%)

304

(53,2%)

Than tiêu thụ (triệu tấn)

63

95

129

Nguồn: Quy hoạch VII điều chỉnh

Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp tích cực của nhiệt điện than cho nguồn điện quốc gia thì sự phát triển nhiệt điện than còn có những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Dưới sự hỗ trợ của Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA), Trung tâm Tư vấn Phát triển bền vững Tài nguyên Nước và Thích nghi Biến đổi khí hậu (CEWAREC) đã tiến hành một số nghiên cứu dưới đây về tác động của than và nhiệt điện than đến nguồn nước, làm cơ sở khoa học để cảnh báo về những tác động tiêu cực cũng như sự phát triển không bền vững của nhiệt điện than đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, nhằm thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng bền vững khác.

Nghiên cứu 1: Đánh giá tác động của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đến nguồn nước thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Nghiên cứu 2: Đánh giá tác động của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng đến nguồn nước.

Nghiên cứu 3: Đánh giá tác động của những sự cố về than đến môi trường đất và nước trong đợt mưa lũ từ ngày 25/7 đến 5/8/2015 ở Quảng Ninh.

2.      MỤC TIÊU CỦA CÁC NGHIÊN CỨU

-         Đánh giá tác động của các nhà máy nhiệt điện đến nguồn nước và các sự cố liên quan đến than trong điều kiện mưa lũ đến môi trường nước và đất.

-         Đề xuất và kiến nghị các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm.

-       Tạo cơ sở dữ liệu khoa học cho quá trình vận động chính sách của Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam (VSEA) trong việc hạn chế phát triển nhiệt điện than.

3.      PHẠM VI CỦA CÁC NGHIÊN CỨU

Tiến hành nghiên cứu tại 3 khu vực:

-          Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh (1200MW) thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

-       Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng (1200MW) thuộc xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng.

-         Bãi thải Đông Cao Sơn, phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Hình 1: Phạm vi nghiên cứu

4.      KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Nghiên cứu 1: Đánh giá tác động của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đến nguồn nước thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Hình 2: Sơ đồ vị trí lấy mẫu của nghiên cứu 1

Tác động của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đến nguồn nước:

a) Nước mặt

Chất lượng nước sông Diễn Vọng tại khu vực cảng than, vận chuyển than và khu vực tiếp nhận các loại nước thải từ nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo kết quả nghiên cứu:

Chất lượng nước sông Diễn Vọng tại khu vực cảng than và vận chuyển than vào mùa mưa có dấu hiệu ô nhiễm bởi TSS, NH4+, Cr6+, Mn, và dầu mỡ; vào mùa khô bị ô nhiễm bởi NH4+ và dầu mỡ.

Bảng 2: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực cảng than và vận chuyển than

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Mùa khô

Mùa mưa

TSS

-

2,07 - 2,53

NH4+

1,15 - 1,19

1,03 - 1,33

Dầu mỡ

8 - 9

4,5 - 8,5

Cr6+

-

1 - 2

Mn

-

1,25 - 3,63

(-): Không vượt tiêu chuẩn

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Chất lượng nước sông Diễn Vọng tại khu vực tiếp nhận nước thải từ hồ thải xỉ của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh vào mùa mưa có hàm lượng oxy hòa tan DO thấp (4,02 mg/L) và đang bị ô nhiễm bởi TSS, BOD5, NH4+, dầu mỡ và một số các kim loại nặng (Se, Cr6+, Mn, Fe và Bo).

Chất lượng nước sông Diễn Vọng tại khu vực tiếp nhận nước thải từ các quá trình khác của nhà máy như nước thải vệ sinh thiết bị, khử khoáng, khử lưu huỳnh, nước thải sinh hoạt... có hàm lượng DO rất thấp (2,4 – 3,88 mg/L), chất lượng nước vào mùa mưa đang bị ô nhiễm bởi TSS, COD, BOD5, NH4+, dầu mỡ và một số các kim loại nặng (Cr6+, Mn, Fe và Bo), vào mùa khô bị ô nhiễm bởi TSS,COD, BOD5, dầu mỡ và kim loại nặng (Cr6+, Fe).

Bảng 3: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực tiếp nhận nước thải của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Khu vực tiếp nhận nước thải từ hồ thải xỉ của nhà máy

Khu vực tiếp nhận nước thải từ các quá trình khác của nhà máy

Mùa mưa

Mùa khô

Mùa mưa

TSS

4,17

4,77

5,07

COD

-

1,11

1,45

BOD5

1,38

1,84

2,37

NH4+

1,94

-

1,42

Dầu mỡ

16

11

12

Fe

3,42

1,4

1,62

Se

3

-

-

Cr6+

7

2

4

Bo

2,52

-

1,56

Mn

5,42

-

2,01

(-): Không vượt tiêu chuẩn

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Chất lượng nước sông Diễn Vọng tại khu vực tiếp nhận nước thải của quá trình làm mát có nhiệt độ cao, nhiệt độ dao động từ 38,1oC - 38,9oC và cao hơn 6,2 – 16,1oC so với nhiệt độ nước đầu của quá trình làm mát. Sự tăng giảm nhiệt độ một cách đột ngột có thể gây nên hiện tượng sốc nhit, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của một số loài động vật thủy sinh như cá... Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu thì nhiệt độ của nước thải của quá trình làm mát mới chỉ gây ảnh hưởng cục bộ, chưa gây ảnh hưởng đến toàn khu vực nghiên cứu.

b) Nước ven bờ

Vịnh Cửa Lục và Vịnh Hạ Long nằm ở phía hạ lưu nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, cách nhà máy khoảng 3-13km về phía Nam.

Theo QCVN 10:2008 về chất lượng nước ven bờ đối với vùng nuôi trồng thủy sản và bảo tồn thủy sinh thì chất lượng nước Vịnh Hạ Long và Vịnh Cửa Lục tại khu vực nghiên cứu đang bị ô nhiễm bởi TSS, COD, DO, NH4+, dầu mỡ và kim loại nặng (Fe, Cr6+),  còn đối với vùng bãi tắm, thể thao dưới nước thì chất lượng nước ven bờ tại khu vực nghiên cứu đang bị ô nhiễm bởi TSS, COD, DO, dầu mỡ và Fe.

Tuy nhiên, chất lượng nước ven bờ Vịnh Cửa Lục và Vịnh Hạ Long chịu nhiều áp lực từ các ngành kinh tế - xã hội khác nhau như du lịch, dịch vụ, công nghiệp, dân sinh, giao thông thủy... vì vậy, nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh chỉ là một trong những yếu tố góp phần làm gia tăng sự ô nhiễm nước trên vịnh.

c) Nước ngầm

Chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu tương đối tốt, các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong tiêu chuẩn QCVN 09:2008, ngoại trừ chỉ tiêu về độ cứng được tìm thấy trong nước giếng ở khu vực gần nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh là vượt tiêu chuẩn cho phép.

4.2 Nghiên cứu 2: Đánh giá tác động của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng đến nguồn nước

Hình 3: Sơ đồ vị trí lấy mẫu của nghiên cứu 2


Hình 4: Sơ đồ vị trí lấy mẫu của nghiên cứu 2

Tác động của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng đến nguồn nước:

a) Nước mặt

Chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động từ nhà máy nhiệt điện Hải Phòng và hoạt động của các cảng than và khu vực vận chuyển than. Theo kết quả nghiên cứu:

Chất lượng nước sông Bạch Đằng tại khu vực cảng than và vận chuyển than đang bị ô nhiễm bởi TSS, dầu mỡ, và một số các kim loại nặng (Cr6+, Pb, Fe).

Bảng 4: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực cảng than và vận chuyển than

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Mùa khô

Mùa mưa

TSS

4,9 - 5,56

2,07 - 3,5

Dầu mỡ

13,5 - 28,5

15,5 - 32,5

Cr6+

1 - 2

1 - 2

Pb

1,05 - 1,15

-

Fe

1,02

1,06 - 2,02

(-): Không vượt tiêu chuẩn

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Chất lượng nước sông Bạch Đằng tại khu vực tiếp nhận nước thải từ quá trình làm mát vào mùa mưa và mưa khô đều bị ô nhiễm bởi TSS, COD, dầu mỡ, Cr6+ và có nhiệt độ tương đối cao vào mùa mưa (37,2oC). Nhiệt độ nước cao gây ảnh hưởng đến đời sống của một số loài cá trên sông Bạch Đằng như cá chép, cá rô phi, cá chình... Tuy nhiên, nhiệt độ nước thải của quá trình làm mát mới gây ảnh hưởng cục bộ đến khu vực nghiên cứu.

Bảng 5: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực tiếp nhận nước thải từ quá trình làm mát

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Mùa khô

Mùa mưa

TSS

5,5

4,1

COD

2,45

1,83

Dầu mỡ

13

23

Cr6+

1

3

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Chất lượng hồ Uyên Ương và hồ sông Cầu, nơi tiếp nhận nước thải của hồ thải xỉ nhà máy nhiệt điện Hải Phòng vào mùa mưa và mùa khô đều bị ô nhiễm TSS, COD, dầu mỡ, Pb và coliform. Chất lượng nước sông Bạch Đằng tại khu vực tiếp nhận nước từ hồ Uyên Ương và hồ Sông Cầu đang bị ô nhiễm bởi TSS, COD, dầu mỡ, Cr6+ (mùa khô) và ô nhiễm TSS, dầu mỡ (mùa mưa).

Bảng 6: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực tiếp nhận nước thải từ hồ thải xỉ của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Hồ Uyên Ương

Hồ Sông Cầu

Sông Bạch Đằng

MK

MM

MK

MM

MK

MM

TSS

-

1,07

1,07

1,2

4,83

3,17

COD

2,1

1,47

2,31

2,79

1,23

-

Dầu mỡ

5

6

5

4

8

6,5

Cr6+

-

-

-

-

1

-

Pb

1,3

1,55

1,35

1,05

-

-

Coliform

1,12

1

1,5

1,68

-

-

(-): Không vượt tiêu chuẩn

MK: mùa khô; MM: mùa mưa

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

b) Nước ngầm

Chất lượng nước ngầm (nước giếng) tại một số hộ gia đình đang sinh sống gần khu vực nhà máy nhiệt điện Hải Phòng và hồ thải xỉ của nhà máy, thuộc xã 2 xã Tam Hưng và xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng hiện nay đang bị ô nhiễm bởi Mn, độ cứng, coliform và chất lượng nước giếng vào mùa mưa thường ô nhiễm hơn mùa khô. Theo QCVN 09:2008 hàm lượng Mn vượt 1,1 – 1,63 lần, độ cứng vượt 1,58 – 2,08 lần, coliform ở ngưỡng bắt đầu gây nguy hại cho con người, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tiêu hóa.

4.3 Nghiên cứu 3: Đánh giá tác động của những sự cố về than đến môi trường đất và nước trong đợt mưa lũ từ 25/7 đến 5/8/2015 ở Quảng Ninh

4.3.1      Sự cố vỡ đập chắn suối 9.8 của bãi thải Đông Cao Sơn, phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

a)      Thông tin về sự cố


Hình 5: Đập chắn suối 9.8 của bãi thải Đông Cao Sơn bị vỡ

Ngày 26/7/2015, mưa lớn xảy ra tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã gây sạt lở sườn tầng của bãi thải Đông Cao Sơn, gây áp lực xuống chân bãi thải Đông Cao Sơn khiến đập chắn suối 9.8 bị vỡ. Sự cố xảy ra khiến hàng nghìn m3 bùn thải than của bãi thải Đông Cao Sơn tràn xuống khu dân cư sinh sống ở chân bãi thải, gây ngập 94 hộ gia đình thuộc tổ 1 và 2 khu 4 phường Mông Dương, vùi lấp hoàn toàn suối 9.8 và suối H10 - hệ thống tiêu thoát nước của bãi thải Đông Cao Sơn. Sự cố gây thiệt hại nặng nề về tài sản và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân cũng như chất lượng môi trường.


Hình 6: Người dân tổ 1 và 2 khu 4 phường Mông Dương phải di dời sau sự cố

b)        Đánh giá tác động của sự cố vỡ chắn suối 9.8 của bãi thải Đông Cao Sơn đến môi trường nước và đất

       Mẫu nước mặt        Mẫu đất

 


Hình 7: Sơ đồ vị trí lấy mẫu của nghiên cứu 3

Sự cố vỡ đập chắn suối 9.8 của bãi thải Đông Cao Sơn đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất và nước ở phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Theo kết quả nghiên cứu:

Chất lượng nước tại khu vực suối H10 và suối 9.8, nơi tiếp nhận nước thải từ bãi thải Đông Cao Sơn có giá trị pH, DO rất thấp (pH dao động từ 4,36 – 4,56; DO dao động từ 3,87 – 4,11 mg/L) và đang bị ô nhiễm bởi TSS, COD, NH4+, dầu mỡ, đặc biệt là các kim loại nặng như As, Cr6+, Mn, V, Tl.

Bảng 7: Số lần vượt tiêu chuẩn của các chỉ tiêu trong nước tại khu vực tiếp nhận nước thải từ bãi thải Đông Cao Sơn

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

Suối 9.8

Suối H10

TSS

1,8 - 1,93

2,37

COD

-

1,17

NH4+

3,25 - 3,4

-

Dầu mỡ

2,5 - 3

1,55

As

-

1

Cr6+

1 - 4

-

Mn

4,56 - 5,43

17,9

V

1,6 - 1,9

1,5

Tl

26,25 - 30

-

(-): Không vượt tiêu chuẩn

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Chất lượng đất ở khu vực phường Mông Dương, nơi bị ngập trong bùn thải than của bãi thải Đông Cao Sơn đang bị ô nhiễm bởi Asen. Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn của kim loại nặng trong đất (QCVN 03:2008), Asen vượt 1,13 – 1,4 lần.


Hình 8: Hàm lượng As trong đất tại khu vực phường Mông Dương, nơi bị ngập trong bùn thải than của bải thải Đông Cao Sơn

4.3.2      Sự cố vỡ đê bao hồ thải xỉ của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

a)      Thông tin về sự cố


Hình 9: Hồ thải xỉ của nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh bị vỡ

Ngày 28/7/2015, mưa lớn kéo dài nhiều ngày liên tiếp đã làm đê bao của hồ thải xỉ nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh bị vỡ, đoạn bục vỡ ước tính khoảng 40m. Đê bao bị vỡ khiến nước thải trong hồ thải xỉ tràn ra ngoài môi trường và khu vực cảng than lân cận làm rửa trôi một khối lượng lớn than xuống sông Diễn Vọng, đồng thời kéo theo nhiều chất gây ô nhiễm ra ngoài môi trường.

b)        Đánh giá tác động của sự cố vỡ đê bao của hồ thải xỉ nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đến môi trường nước


Hình 10: Sơ đồ vị trí lấy mẫu nghiên cứu 3

Chất lượng nước thải của hồ thải xỉ sau khi tràn ra ngoài môi trường có giá trị pH, DO rất thấp (pH = 4,9; DO = 3,95 mg/L) và có hàm lượng các chất gây ô nhiễm như NH4+, dầu mỡ và một số các kim loại nặng (Mn, As, Fe, Mn, Bo, Se) cao, đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Bảng 8: Số lần vượt tiêu chuẩn của nước thải của hồ thải xỉ sau khi tràn ra ngoài môi trường

Chỉ tiêu

Số lần vượt tiêu chuẩn (lần)

NH4+

3,7

Dầu mỡ

4,5

Fe

1,52

As

1,2

Bo

2,24

Mn

1,1

Se

2

Cơ sở đánh giá: QCVN 08:2008/A2, TCVN 5943: 1995/A, tiêu chuẩn Canada

Tài liệu này được biên soạn và in ấn bởi Trung tâm Tư vấn Phát triển bền vững Tài nguyên Nước và Thích nghi Biến đổi khí hậu (CEWAREC) với sự hỗ trợ của Liên minh năng lượng Bền vững Việt Nam (VSEA)


 


Mọi thông tin xin liên hệ địa chỉ:

Email: cewarec@yahoo.com.vn

Website: cewarec.org