Tây Nguyên: Thủy điện đang làm người dân nghèo đi, khổ đi


23/07/2016
CEWAREC.org - Đó là phát biểu của Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, tại hội thảo An ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên, được tổ chức tại TP Pleiku tỉnh Gia Lai ngày 22/7 vừa qua.



Tiến sĩ Đào Trọng Tứ phát biểu tại hội thảo An ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên tổ chức tại TP Pleiku tỉnh Gia Lai ngày 22/7.

Với điều kiện địa hình, địa chất thuận lợi, dồi dào, phong phú nguồn nước cùng 4 hệ thống sông chính Sê San, Srêpốk, sông Ba và sông Đồng Nai, các dòng sông có tiềm năng khá lớn về phát triển thủy điện. Chính vì thế, Tây Nguyên đã trở thành hiện tượng “sốt thủy điện”, tính đến thời điểm hiện tại đã có tới 190 công trình thủy điện lớn và nhỏ trên cả 4 hệ thống sông.

Cũng chính việc phát triển thủy điện một cách ồ ạt khiến các con sông lớn ở Tây Nguyên đang chết dần, phá vỡ hệ sinh thái, ảnh hưởng đến nghiêm trọng đời sống người dân nơi đây đặc biệt là người dân tộc thiểu số.

Phát biểu tại hội thảo, Tiến sĩ Đào Trọng Tứ - Trung tâm phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu - đã nêu bật hệ lụy do các công trình thủy điện trên hệ thống sông Tây Nguyên gây ra. Qua đó, hội thảo cũng chỉ ra nhiều vấn đề, đặc biệt việc phát triển ồ ạt thủy điện trên các hệ thống sông đang gây ra nhiều hệ lụy lớn trên vùng Tây nguyên.

Cũng theo tiến sĩ Tứ, khi các công trình thủy điện mọc lên đồng nghĩa với nạn phá rừng khó kiểm soát, việc ngăn dòng chuyển nước trái luật tự nhiên khiến hệ sinh thái Tây Nguyên đang thay đổi theo hướng tiêu cực, hung dữ hơn về mùa mưa và cạn kiệt hơn về mùa khô.

Dòng sông Sông Srêpốk - lớn thứ 2 Tây Nguyên hiện có tới 7 công trình thủy điện lớn, hàng chục công trình thủy điện nhỏ được xây dựng. Điển hình, thủy điện Srêpốk 4A,đã ngăn dòng, chuyển nước qua kênh đào lớn xuống đoạn sông 20km hạ lưu thủy điện Srêpốk 4. Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đoạn sông từ sau đập thủy điện Sêrêpốk 4 và Sêrêpôk 4A bị cạn kiệt có nguy cơ trở thành đoạn sông “chết”. Để khắc phục, tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu lưu lượng mà thủy điện Sêrêpốk 4A phải đảm bảo trả về cho đoạn sông là 8,23m3/giây. Tuy nhiên, lượng nước này là quá nhỏ so với dòng chảy sinh thái phải trả lại cho sông Sêrêpốk.

Được mệnh danh là dòng sông “năng lượng”, Sông Sê San có tới 7 công trình thủy điện lớn đã được xây dựng và vận hành. Bên cạnh đó còn 238 công trình thủy lợi khác cũng đã, đang và sẽ được triển khai xây dựng. Hệ thống thủy điện dày đặc trên đã ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường sinh thái, kinh tế. Diện tích đất rừng và nông nghiệp bị mất, cảnh quan thiên nhiên thay đổi. Đặc biệt, thủy điện Thượng Kon Tum trên sông Sê San đang được xây dựng sau khi phát điện sẽ không trả nước về dòng chính mà trả về sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi. Nếu không tính toán kỹ, sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái, môi trường vùng hạ du sông Sê San.

Do việc quy hoạch và vận hành không tuân thủ việc xả dòng chảy xuống hạ du đập, Công trình thủy điện An Khê – Kanak trên Sông Ba chuyển nước từ thượng nguồn sông Ba sang sông Kôn, đã gây hệ lụy lớn về môi trường cũng như sinh kế cuộc sống của người dân ở vùng hạ lưu của tỉnh Gia Lai.

Qua đó tiến sĩ Tứ băn khoăn, việc chuyển đổi dòng chảy của các thủy điện là rất đáng lo ngại, tất cả các dự án thủy điện phải vô cùng thận trọng và phải tránh. Thực tế thủy điện đang tận diệt sức sống của những dòng sông lớn nhất Tây Nguyên, gây mất diện tích rừng lớn.

Qua đánh giá của hội thảo, một hồ thủy điện cỡ 10MW chạy vào khoảng 60% công suất trong các tháng mùa khô có thể xóa sổ hàng trăm ha rừng. Chỉ với 25 công trình thủy điện lớn tại Tây Nguyễn đã và đang xây dựng đã chiếm dụng hơn 68.000 ha đất, làm ảnh hưởng đến gần 26.000 hộ dân. Các tỉnh đã phải chuyển đồi 80.000 ha đất các loại cho các dự án thủy điện. Tính trung bình 1MW thủy điện đã chiếm tới 14,5 ha đất các loại, làm ảnh hưởng 5,5 hộ dân, trong đó 1,5 hộ phải di dời.

Việc trồng rừng thay thế chưa đủ so với diện tích rừng phục vụ thủy điện. Theo thống kê chưa đầy đủ hiện tại mới chỉ trồng lại được khoảng 3,3% diện tích rừng phải chuyển đổi. Chỉ tính riêng tỉnh Đắk Lắk, các dự án thủy điện phải trồng mới hơn 845 ha, nhưng hiện chỉ trồng được 63 ha. Tại tỉnh Lâm Đồng, hầu hết các thủy điện chưa được bố trí đất để trồng rừng thay thế.

Việc người dân phải nhường đất cho thủy điện làm thay đổi tập quán văn hóa, sản xuất lâu đời của người dân bản địa Tây Nguyên. Người dân phải di dời đến nơi khác, điều kiện sản xuất và đời sống không bằng nơi ở cũ phải mất nhiều năm mới khắc phục được. Do chậm trễ trong việc đền bù, bố trí tái định cư, thủy điện cũng đã gián tiếp gây nên nạn phá rừng.

Theo PGS.TS Huỳnh Phú – Đại học Tài nguyên môi trường Hà Nội, việc thủy điện thay thay đổi dòng chảy làm đời sống người dân khốn khó, gây hệ lụy lâu dài. Vào mùa khô người dân không có nước tưới, những vùng hạ lưu thủy điện gần như hủy diệt vì dòng chảy chỉ còn rất nhỏ, mùa mưa không tham gia cắt lũ ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Ông Phú nói: “Khi làm thủy điện đã không tính tới việc mất đi bao nhiêu vị trí,  phải làm sao cho sinh kế của đồng bào tốt nhất chứ không phải cứ đẩy họ lùi sâu vào trong rừng để mà thu tiền. Thủy điện hiện nay đang làm người dân nghèo đi, khổ đi, đặc biệt là đồng bào Tây Nguyên”

Bên cạnh đó, theo bà Phan Thị Lệ Anh, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, các công trình thủy điện đã tác động lớn đến chế độ thủy văn, chất và lượng nước, môi trường, đời sống, đặc biệt là thủy sản trên các hệ thống sông. Cần có giải pháp bảo vệ, phát triển và khai thác hiệu quả, bền vững nguồn lợi thủy sản.

Liên quan đến việc xây dựng thủy điện trong các khu bảo tồn, tiến sĩ Đào Trọng Tứ nói: “Từ nay về sau không thể để bất cứ thủy điện nào được xây dựng trong đây vì thủy điện là tài sản riêng mà lại đặt trong vườn quốc gia là tài sản chung đã được pháp luật quy định cấm tuyệt đối xâm hại, nếu xây dựng là phạm pháp”.
[Trở về]
Các bài cùng chuyên mục: